Tuổi 20 cháy bỏng trên chiến trường: Gen Z năm xưa "dấn thân" vì non sông qua góc nhìn phóng viên chiến địa

158ca1890738d88715ab.webp


9c183a8bd497512242db.jpg


f18aa30f4600c9e1f12b.jpg


dfab40187b2311183ab6.jpg


Năm 20 tuổi, phóng viên Trần Mai Hưởng đặt chân tới Quảng Trị - mặt trận có thể nói là khốc liệt nhất lúc bấy giờ. Những lần tác nghiệp sinh tử lúc tuổi vừa đôi mươi đã in dấu trong tâm trí ông những ký ức không thể nào quên.

Ông kể lại: "Đầu năm 1972, khi tôi vừa tròn 20 tuổi và đặt chân đến Quảng Trị, không khí chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công nổi dậy trên toàn miền Nam đã rất khẩn trương. Thông tấn xã Việt Nam lúc bấy giờ cần một lực lượng hoạt động ngay bên kia bờ sông Hiền Lương, trực tiếp phản ánh cuộc chiến đấu giải phóng Quảng Trị, quá trình xây dựng vùng giải phóng, giành chính quyền và thiết lập một khu vực hoàn toàn dưới sự kiểm soát của ta. Đó là một nhiệm vụ vô cùng lớn lao.

Chiến dịch giải phóng Quảng Trị đặt ra vô vàn yêu cầu, từ việc ghi nhận những trận đánh của bộ đội, phản ánh phong trào nhân dân nổi dậy xây dựng chính quyền, cho đến cuộc chiến đấu kiên cường bảo vệ đất, giữ dân sau những đợt giằng co ác liệt giữa hai bên, mà đỉnh điểm là 81 ngày đêm chiến đấu tại thành cổ Quảng Trị.

c1ed2b5b4d0a0529cea7.jpg


Đó là một thời kỳ sôi động và khốc liệt vô cùng. Khi ấy, quân đội Mỹ vẫn còn tham chiến, sức mạnh không quân và pháo binh của họ rất lớn: B-52, pháo hạm, pháo mặt đất, cùng đủ loại máy bay tiêm kích, cường kích và bom bi trút xuống ngày đêm. Tác nghiệp trong hoàn cảnh đó đòi hỏi phóng viên phải nỗ lực hết mình. Rất nhiều lần tôi theo sát bộ đội trong các chiến dịch lớn, từ giải phóng Gio Linh, Triệu Phong đến thị xã Quảng Trị, rồi hành quân qua những bãi bom, trận địa pháo, đối mặt với vô vàn thử thách.

"Không có tác phẩm thì đó là mission failed"

Nhưng điều quan trọng hơn sự ác liệt của chiến tranh, và cũng là điều khó khăn nhất mà tôi muốn chia sẻ, chính là việc phải có tác phẩm: phải thu thập được tài liệu, có được bài viết, có được bức ảnh và chuyển chúng về cơ quan. Chỉ khi đó, nhiệm vụ của mình mới hoàn thành. Chịu đựng bao gian khổ mà không có tài liệu giá trị, không có hình ảnh chân thực, không có bài viết sâu sắc thì rõ ràng là mình đã không hoàn thành nhiệm vụ. Đó là điều tôi thấm thía sâu sắc.

Có những lúc tôi đi theo bộ đội, nhưng cũng có khi phải một mình quay trở lại căn cứ để gửi bài. Ví dụ như năm 1972, sau khi giải phóng Bích La Đông, quê hương của Tổng Bí thư Lê Duẩn, việc có một bài viết về sự kiện quan trọng này là vô cùng cần thiết. Để thực hiện nhiệm vụ đó, tôi đã ở lại Bích La Đông cùng chính quyền địa phương tổ chức lễ ra mắt, rồi một mình vác ba lô đi bộ từ Triệu Phong về Cửa Việt, qua Cửa Tùng, ra Vĩnh Linh để kịp thời gửi bài.

Nếu cứ ở lại, chắc chắn bài viết sẽ chậm trễ. Và việc quay trở lại một mình như vậy cũng đầy rủi ro, khi mà mọi người đều đang tiến về phía trước hoặc bám trụ tại các địa bàn. Tôi đơn độc đi dọc bờ biển, một bên là biển cả mênh mông, một bên là bãi cát trắng trải dài, chỉ có một mình với khẩu súng. Có những lúc, tôi cũng cảm thấy hoang mang, lo lắng khi nghĩ đến những hiểm nguy có thể ập đến bất ngờ. Pháo vẫn nổ và tàn quân địch có thể ẩn náu ở đâu đó.

Khoảnh khắc gói lương khô vụn bay theo gió

Đã có những thời điểm sức lực cạn kiệt. Khi về đến Cửa Việt, sau những ngày hành quân và tác chiến liên tục, trong túi của tôi chỉ còn một gói lương khô dự trữ. Nhưng vì đi lại quá nhiều, gói lương khô đã bị vụn nát. Buổi chiều hôm ấy, bên bờ sông Cửa Việt, khi tôi mở gói lương khô ra để ăn thì thứ còn lại chỉ là một nắm bụi. Tôi vừa mở ra thì gió thổi bay hết, tôi vội quơ tay nhưng không thể bốc nổi một chút nào vào miệng.

6bb22d9ccc6f7cd8f3db.jpg


Viết tên lên giấy để... nhận diện nếu hy sinh

Không ít lần tôi nằm giữa những trận địa pháo B52, tưởng như cái chết cận kề. Trong những chuyến công tác đơn độc, thâm nhập vào vùng chống phản kích ác liệt ở Triệu Phong, tôi phải viết tên mình lên một mảnh giấy nhỏ, bọc ni lông kỹ lưỡng rồi dùng dây buộc chặt vào người bởi vì nếu chẳng may trúng bom, cơ thể có thể bị vùi lấp, quần áo có thể tan nát, thì ít ra mảnh giấy đó giúp người ta biết tôi là ai, của cơ quan nào… Chúng tôi, những người làm báo thời chiến, chấp nhận mọi rủi ro, xem đó như một phần tất yếu của công việc.

Chúng tôi sống trong những căn hầm, hứng chịu những trận pháo kích suốt đêm. Sáng hôm sau, nhìn ra xung quanh chỉ thấy chi chít những hố bom, may mắn thay, hầm của mình vẫn an toàn. Nhưng nếu không may mắn, thì sự sống cũng chấm dứt. Đó là những thử thách thường xuyên, buộc chúng tôi phải chấp nhận và vượt qua. Tôi luôn nghĩ rằng một năm ở Quảng Trị năm 1972 khắc nghiệt bằng cả một đời người. Trải qua tất cả những điều đó, nhiều năm sau này, nó vẫn còn rèn giũa con người tôi.

929a1406ad5d9e228d35.jpg


Bài học sinh tồn giữa bãi bom: nằm yên mới sống được

Ngay cả việc nằm giữa bãi bom mà không chết, đó cũng là một sự rèn luyện bản lĩnh. Nếu không giữ được bình tĩnh, cái chết có thể đến rất nhanh. Bom B52 có thể ném thành ba loạt, sáu loạt, cả một vùng rộng lớn hàng trăm mét vuông dày đặc hố bom. Khi bom đã nổ, cách duy nhất là nằm im tại chỗ. Bất kỳ ai sợ hãi vùng dậy chạy đều có thể trúng phải vô vàn mảnh đạn.

Trong những trận đánh phản kích, mối liên hệ giữa người phóng viên và những chiến sĩ trở nên thắm thiết hơn bao giờ hết. Tại những vùng đất mà ranh giới giữa ta và địch chỉ là một con đường làng, nơi quân nguỵ đóng ở đầu, du kích Quân Giải phóng giữ ở cuối, tôi đã cùng họ sống và chiến đấu.

Đêm đêm, tiếng súng có thể nổ ra bất ngờ, và những người du kích ấy luôn lo lắng cho sự an toàn của tôi, ân cần chỉ dẫn đường đi nước bước khi có giao tranh. Chúng tôi đã chia sẻ mọi gian khổ, hiểm nguy, từ bữa ăn đến giấc ngủ. Dù sự hy sinh luôn rình rập, nhưng đó là cái giá phải trả của người phóng viên để có thể phản ánh một cách chân thực cuộc chiến đấu bảo vệ quê hương.

0910f29ca448af509710.jpg


Những người đồng đội mãi mãi không trở về

Trong cuộc chiến khốc liệt ấy, sự hy sinh của những người đồng đội là một nỗi đau không thể nào nguôi ngoai. Tôi nhớ nhà báo, nhà nhiếp ảnh đàn anh Nghĩa Dũng, anh đã ngã xuống ngay trong những ngày đầu của cuộc Tổng tiến công vào Quảng Trị năm 1972, một sự mất mát đột ngột. Anh hy sinh ở miền Tây Quảng Trị, và sau này, những tác phẩm của anh đã được vinh danh, nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh. Gần đây, ở Đông Hà, tên của anh đã được đặt cho một con đường.

Một nhà báo khác của Thông tấn là anh Hồ Minh Khởi đã đưa các nhà báo mới ra trường vào thực tế và rồi mãi mãi nằm lại Quảng Trị. Anh hy sinh bởi mảnh pháo oan nghiệt găm vào tim, dù anh đang trú ẩn trong hầm. Hay như những nhà quay phim của Điện ảnh Giải phóng quân đội, họ cũng gục ngã trên đất Gio Linh. Tất cả những điều đó diễn ra ngay bên cạnh, nhắc nhở rằng cái chết có thể đến với bất kỳ ai, bất cứ lúc nào.

Và tôi cũng phải thừa nhận rằng, sự sống sót ở chiến trường còn cần đến cả sự may mắn. Có người bị thương tật, có người hy sinh, nhưng cũng có những người như tôi, chỉ chịu sức ép bom đạn, cuối cùng vẫn trở về được. Đó là điều may mắn lớn lao trong cuộc đời tôi."



Thế hệ "dấn thân" - ra chiến trường là lẽ tự nhiên ✊

Nguồn: svvn.tienphong.vn
 
Back
Top