KẹoNgọtXinhXắn
New member
Bài viết được góp ý bởi chị Trịnh Đức Phương Linh - Đại diện APM (Asie Pacifique Média) khu vực Đông Nam Á, CEO An Nam TDC. Từng học Lý luận và Phê bình nghệ thuật + Hội họa tại ĐH Mỹ thuật VN, hiện đang làm truyền thông, phim tài liệu và hỗ trợ bảo tồn, chị mang đến góc nhìn cân bằng về câu chuyện bản quyền văn hóa đại chúng đang gây bão gần đây.
Khi nghệ sĩ thị giác Lê Giang lên tiếng về việc team sáng tạo của Antiantiart và Microwave Soups dùng layout tác phẩm sắp đặt của cô vào một MV nhạc Pop, cộng đồng sáng tạo Việt đã chứng kiến một "điểm chạm" đáng suy ngẫm. Sự việc không đơn thuần là tranh chấp bản quyền thông thường, mà nhanh chóng mở ra hàng loạt cuộc tranh luận ồn ào về "chiếm dụng tác phẩm", ranh giới giá trị phái sinh hay vay mượn chất liệu dân gian vào sáng tạo đương đại.
Nếu lùi lại một chút để nhìn rộng hơn, câu chuyện này vượt xa những kết luận về lỗi quy trình hay "sao chép" thông thường. Không chỉ làm nổi lên hàng loạt định nghĩa mới từ các bên và cộng đồng mạng, đằng sau những layout tương đồng hay lời xin lỗi từ phía các bạn trẻ, vụ việc còn phơi bày hai bản chất cốt lõi của hệ sinh thái sáng tạo nội địa.
Đó là mối quan hệ cộng sinh phức tạp giữa nghệ sĩ với nhau và giữa họ với kho tàng di sản - nơi vốn dĩ tất cả chúng ta đều được thừa hưởng "miễn phí". Và quan trọng hơn, đó là bài học về văn hóa ứng xử từ cá nhân nhưng có sức lan tỏa tập thể, về việc thiết lập tiền lệ đúng quy trình pháp lý, văn minh thời đại, lại nhuần nhuyễn lời dạy của ông cha. Đây là "trang bị" cần thiết khi những bộ óc xuất sắc cùng tâm thức tôn vinh bản sắc dân tộc, vô tình va chạm nhau trên hành trình định hình ngôn ngữ nghệ thuật riêng vươn ra thế giới.
Bản chất của mọi sự sáng tạo trong bối cảnh nội địa đều bắt nguồn từ một điểm: tất cả chúng ta đều được nuôi dưỡng từ cái nôi dân tộc tính . Từ những mảng vỉ kèo đình làng, cấu trúc đục chạm cổ cho đến hoa văn thời Lý - Trần - Lê và xa hơn nữa, toàn bộ kho tàng nghệ thuật về hình tượng cùng tay nghề đồ sộ ấy được tôi bồi qua từng thế hệ, đã trở thành nguồn tài nguyên dồi dào "giải phóng bản quyền" hoàn toàn miễn phí.
Các nghệ nhân nhiều đời xa xưa tạo tác nên những công trình tuyệt mỹ bằng cả tâm huyết và máu thịt, nhiều khi chẳng màng lưu lại danh tính ở công trình hay trong văn tự dòng tộc, làng xã. Đến khi nghệ sĩ đương đại chạm vào vốn cổ theo cách khác nhau - có thể tìm hiểu thực địa, qua tài liệu số, hoặc dùng kết quả nghiên cứu từ các chuyên gia bảo tồn thầm lặng - để gọt giũa chất liệu thành cảm tác cá nhân, hình thành nên tác phẩm có thẩm mỹ, triết học và tầm nhìn riêng. Họ hoàn toàn có quyền bảo hộ pháp lý đối với tác phẩm chứa "phương thức biểu đạt cá nhân" ấy.
Thật sự đấy, học hỏi từ nghệ thuật truyền thống rồi làm thành tác phẩm cá nhân, đăng ký bản quyền thì không chỉ pháp luật bảo vệ ý tưởng, tư duy và tay nghề của bạn, mà cả hệ thống nhìn nhận từ khán giả cũng sẽ bảo vệ bạn.
Nhưng nếu đào sâu hơn, kiên nhẫn tìm về gốc rễ thay vì dừng ở bề mặt, chúng ta sẽ thấy những thực thể hiện diện lâu đời. Nơi các nghệ sĩ đương đại vẫn đang khai thác không ngừng nguồn cảm hứng tạm gọi là "bản quyền nghệ thuật dân tộc" một cách dồi dào và xả láng. Kể cả khi có công trình nguyên tác vẫn còn văn tự ghi chép rõ ràng tên tuổi nghệ nhân chế tác, họ tộc nào đóng góp, tất cả vốn liếng đó vẫn đang được trao tặng cho hậu thế làm tư liệu sản xuất và sáng tạo không tốn chi phí, không cần chứng minh hay trình báo với ai.
Nhưng liệu đã có bao nhiêu nghệ sĩ đương đại khi dùng tài liệu vốn cổ để làm tác phẩm cá nhân có cất công tìm về nguồn nguyên tác để thắp nén nhang cho Tổ làng nghề, cho các bậc tiền nhân đã tạo tác, hoặc có ghi chú về nguồn gốc nguyên tác từ làng quê nào ở Việt Nam? Tác phẩm có thành danh hay không, có được ủng hộ không biên giới hay không, suy cho cùng không quan trọng bằng nhận thức rằng nó không hoàn toàn là sáng tạo độc bản của riêng "một cá nhân" nào, xét theo bản chất tư liệu
Tuy nhiên, ranh giới giữa bảo hộ pháp lý và làm rộng thêm sức mạnh của sản phẩm văn hóa đương đại, sản phẩm đa giác quan lại là chủ đề tranh luận dữ dội khi chưa cụ thể hóa được các vấn đề tinh tế mà văn bản pháp luật chưa cập nhật kịp, cũng chưa có đầy đủ cơ sở hoặc cơ quan hướng dẫn miễn phí về kiến thức bản quyền cho người trẻ.
Vì vậy phản xạ khẳng định "đây là bản quyền của tôi" dễ khiến cái tôi của nghệ sĩ sa vào cực đoan, tuyên bố độc quyền khi có va chạm - trong bối cảnh sản phẩm nghệ thuật đương đại mở rộng trải nghiệm đa giác quan, nguồn tham khảo đa dạng mà thông tin mờ nhạt về biên giới trong hay ngoài nước, của ai, lúc nào, từ đâu.
Cũng chưa đủ công tác truyền thông giáo dục đại chúng bình dân như ông cha ta có Thằng Mõ, mẹ Đốp thông báo cho làng xã. Nếu có các "trạm thông tin" hướng dẫn gần gũi hơn, liên tục hơn có thể hỗ trợ nghệ sĩ về quy trình, thái độ hợp tác khi tham chiếu hoặc sử dụng tư liệu tác phẩm của cá nhân khác trong quá trình hoàn thiện tác phẩm mình. Thiết nghĩ, nếu có nguồn truy xuất tác phẩm thống nhất như bảo tàng trực tuyến hoặc website tra cứu chính thức về tác phẩm đã được ghi nhận bản quyền thành công thì hay biết mấy
Nhưng tác phẩm thành danh hay không, không quan trọng bằng nhận thức rằng nó không hoàn toàn là sáng tạo độc bản từ riêng cá nhân nào. Chưa ai bóc tách tỷ lệ sử dụng nguyên tác trong cấu trúc siêu thực, ý niệm, tầng bậc ý nghĩa của tác phẩm, nhưng rõ ràng nghệ sĩ đang "đứng trên vai những người khổng lồ" tiền nhân.
Bởi nghệ thuật vốn dĩ nằm ở khả năng biểu thị tư duy phức hợp, mô phỏng, siêu thực hay phản biện bằng màu sắc, chất liệu, phương pháp thể hiện. Người ta có thể dùng tới 100% hình ảnh nguyên gốc nhưng đặt dưới một ý niệm cá nhân được logic hóa bằng quan điểm triết học riêng của tác giả. Nhận thức về bản quyền sản phẩm văn hóa vì thế phải tinh vi và đầy đủ hơn việc chỉ nhìn bề nổi kiểu: "đưa hẳn cái đầu đao vào thì là lấy cắp của đình làng ABC" ạ
Nghệ sĩ đương đại đứng trên vai tiền nhân để sáng tạo, chỉ cần biết nâng niu ngôn ngữ nghệ thuật ấy và đặt đúng chỗ là đã nhận được sự đồng cảm lớn. Kế thừa di sản vô giá không mất phí tác quyền, thì "cái tôi" sáng tạo rất cần đi kèm sự khiêm nhường sâu sắc từ trong tâm thức, nhưng cũng cần hoàn thành đúng nghĩa vụ pháp lý biểu lộ bên ngoài để định giá trọn vẹn quy trình sáng tạo và năng lực tôn trọng nguồn truy xuất nếu tái sử dụng từ các nghệ sĩ khác.
Cấu trúc phái sinh của phái sinh, tầng bậc liên tục phát triển này có thể tóm gọn hai lời nhắn: "Nếu ai đó đưa một phần tác phẩm của bạn vào tác phẩm của họ, họ cần giải thích với bạn" và "Nếu bạn đưa cả linh hồn dân tộc vào tác phẩm của mình, dân tộc không cần lời giải thích của bạn. Dân tộc cần lòng biết ơn của bạn."
Từ bản chất nguồn gốc kết hợp rất thời đại này thì quan điểm về ranh giới bản quyền sản phẩm văn hóa đương đại cũng cần điều chỉnh góc tiếp cận chi tiết và tinh vi hơn, quy ước ứng xử khi có tranh chấp cần bao dung, linh hoạt và cân bằng hơn. Cụ thể hóa trọng tài, phát ngôn đại diện để trấn an bão dư luận cấp số nhân trong thời gian quá ngắn, khiến các cá nhân liên quan bị bối rối trong hành xử và vụng về trong đối thoại.
Bởi suy cho cùng, định danh của nghệ sĩ cũng chính nằm ở thời khắc công bố tác phẩm với công chúng, vì vậy họ cùng lúc phải chịu soi chiếu của hàng triệu chiếc gương quan sát và khúc xạ phức tạp vào đạo lý của người làm nghề
Nhìn rộng ra bối cảnh hiện tại, văn hóa Việt Nam đang ở những bước chập chững đầu tiên trên hành trình xây dựng "quyền lực mềm" bên ngoài biên giới quốc gia, và góp phần tạo nên tường thành văn hóa đối với các luồng văn hóa từ bên ngoài tràn vào nội địa. Sự non nớt về mặt kinh nghiệm đối với tài sản trí tuệ, thể hiện lỗ hổng trong quy trình sản xuất sản phẩm văn hóa cao cấp được thương mại rộng rãi.
Thiếu sót là điều có thật, nhưng nó cần được nhìn nhận như một khoảng trống về quy trình và kỹ năng hơn là tội lỗi về tư cách, đặc biệt là đừng quy chụp nặng nề vào tự trọng sáng tác của các cá nhân nghệ sĩ.
Đội ngũ làm 3D, thiết kế bối cảnh hay đạo diễn hình ảnh thế hệ này thường là những bạn trẻ mới trỗi lên trong thị trường sản xuất, thậm chí tuổi đời là mặt bằng nhỏ nhất trong chuỗi sáng tạo. Trong quy trình sản xuất thương mại đầy áp lực với những cơn lốc deadline, các sai sót mang tính quy trình - như lạm dụng moodboard, Pinterest, AI dẫn đến đưa tài liệu vào ồ ạt, thiếu quy trình rà soát. Chú trọng thể hiện năng lực sản xuất hơn bình tĩnh rà soát quy trình pháp lý bản quyền của nguồn trích xuất.
Nguồn: kenh14.vn