Chuyện về một "huyền thoại" dịch thuật đáng kính
Là một trong những tên tuổi legend có công khủng trong việc nghiên cứu và giới thiệu văn học Nhật Bản ở Việt Nam, thầy Nguyễn Nam Trân bước chân vào làng dịch thuật như một định mệnh không thể tránh khỏi Dù nhiều lần phải "solo" với bệnh tật hiểm nghèo, thầy vẫn cháy hết mình với nghề, để lại dấu ấn đậm nét trong lòng bao thế hệ sinh viên. Không chỉ thế, những quan điểm thẳng thừng của thầy về giáo dục, phương pháp dạy học và hướng nghiệp vẫn siêu "hot" đến tận bây giờ!
**CV "xịn xò" của một học giả tài ba**
Thầy Nguyễn Nam Trân (tên thật là Đào Hữu Dũng) sinh năm 1945 tại Đà Lạt, gốc Hương Sơn, Hà Tĩnh. Thầy từng ngồi ghế nhà trường Chu Văn An và Đại học Sư phạm Sài Gòn trước khi "xách ba lô" sang Nhật Bản du học vào năm 1965, rồi tiếp tục "lướt" qua Pháp năm 1970. Với background học vấn "xịn sò", thầy tốt nghiệp cả Đại học Tokyo (Nhật Bản) lẫn Đại học Paris (Pháp), còn "flex" thêm bằng Tiến sĩ Khoa học Thông tin Truyền thông nữa chứ Trong sự nghiệp của mình, thầy từng "cầm trịch" nhiều năm tại các trường đại học danh tiếng ở Pháp và Viện Đại học Quốc tế Josai (Nhật Bản).
Dù nhảy vào làng dịch thuật khá "tình cờ", nhưng nhờ hiểu sâu về văn hóa và ngôn ngữ, thầy Nguyễn Nam Trân đã trở thành "cây cầu vàng" đưa những tinh hoa văn học Nhật Bản đến gần hơn với độc giả Việt. Cả loạt tác phẩm "đỉnh của chóp" như Vạn Diệp tập, Bách nhân nhất thủ, cùng các sáng tác của Mori Ogai, Tanizaki, Akutagawa... đều được thầy chuyển ngữ với toàn bộ tâm huyết
**Cuộc đua marathon với "tử thần" để giữ linh hồn nguyên tác**
Theo thầy Nguyễn Nam Trân, hồi xưa văn học Nhật Bản chưa được "hype" ở Việt Nam và tiếng Nhật cũng chưa phổ biến, nên việc nghiên cứu, dịch thuật gặp đủ thứ khó khăn "troll" não Đa phần các tác phẩm thời đó phải dịch qua một ngôn ngữ thứ ba. Với một người "trân trọng" văn bản gốc như thầy, việc "tam sao thất bản" là điều không thể tránh, dù dịch giả có thiện chí và tài năng thế nào.
Câu "Dịch là phản" luôn là challenge lớn trong nghề. Trung thành tuyệt đối với văn bản có thể làm mất "vibe" của tác phẩm, nhưng nếu chỉ tập trung tái hiện tinh thần lại dễ "lạc đường" xa rời độ chính xác nguyên tác. Chính vì muốn "phá" rào cản đó, thầy quyết tâm tận dụng vốn tiếng Nhật học tại Nhật để mang đến cho độc giả Việt những bản dịch trực tiếp, "full" nhất có thể.
Trong career dịch thuật của thầy Nguyễn Nam Trân, có những giai đoạn đặc biệt để lại nhiều cảm xúc, đó là lúc thầy cày cuốc ngay cả khi đang nằm trên giường bệnh Chính trong hoàn cảnh "đứng giữa ranh giới", ý thức trách nhiệm với văn chương và độc giả Việt Nam càng bùng cháy mạnh mẽ.
"Tôi nhớ khi cơn đau cấp tính kéo đến khoảng Noel 2013, tôi vừa xong bản dịch Basho, bậc đại sư Haiku của Giáo sư Ueda Makoto và đang dịch Sa thạch tập của thiền sư Muju. Trong bệnh viện, bác sĩ chủ trị của tôi trước khi theo ngành Y là một sinh viên văn chương cổ điển và thời sinh viên đã làm một chuyến du lịch về miền Oku theo đúng lộ trình 2500km của Basho nên đã hết sức hiểu tôi và support bằng cách cố gắng duy trì mạng sống của tôi.
Động lực của tôi lúc đó là trước cái chết gần kề, mình cần phải để lại một dấu vết nào đó. Ít nhất mình phải đi qua cuộc đời này như một trận gió lành, một đóa hoa đẹp Nghề của tôi là bàn giấy và dạy học, nghiệp của tôi là nghiệp văn chương. Đã mang cái nghiệp như thế vào thân và có may mắn được học tiếng Nhật tại chỗ, tôi không thể nào "waste" sự may mắn đó." – Thầy xúc động nhớ lại.
**Như hạt bồ công anh gieo mầm cho Gen Z**
Với thầy Nguyễn Nam Trân, dịch thuật không chỉ là công việc học thuật mà còn là một hành trình "cho đi" không vụ lợi. Từ mindset ấy, nhiều bản dịch của thầy được tặng free hoặc đăng tải miễn phí, như một cách lặng lẽ "share" văn chương và gieo mầm cảm hứng cho giới trẻ
"Tôi nhớ một nhà xuất bản của Pháp đã chọn hình ảnh của mình là loài hoa bông cỏ (bồ công anh) với slogan 'Góp lại từ muôn hướng. Tung ra khắp bốn phương'. Tôi cũng như thế thôi. Dù biết khi làm việc, mình phải mua sách, nhà xuất bản phải trả bản quyền và in ấn cũng tốn kém. Nhưng trong trường hợp của tôi thì việc sách đến tay bạn đọc là niềm vui lớn hơn cả. Tôi mong một độc giả trẻ nào đó khi "bắt gặp" tác phẩm dịch nhỏ của tôi trong một thư viện làng quê sẽ có hứng thú 'chọn nghiệp' như tôi cũng không chừng." – Thầy chia sẻ.
Khi thời gian và sức khỏe đặt ra những giới hạn "khắc nghiệt", đối diện với những bản dịch còn dang dở, thầy chọn cách "pass gậy", gửi niềm tin vào thế hệ kế tiếp. Thầy nhận định, nếu năm 1965 khi thầy đến Tokyo, con số sinh viên Việt Nam chỉ khoảng 50 người và đa phần học khoa học kỹ thuật, thì giờ Việt Nam đã có nhiều trường dạy tiếng Nhật bài bản. Cộng đồng người Việt tại Nhật cũng lên tới nửa triệu người rồi! Thầy tin tưởng rằng trong số đó, những người có skills ngôn ngữ và đam mê văn chương sẽ hoàn thành được ước mơ mà thầy đang ấp ủ
**Dạy Văn không chỉ "đọc - note", học Văn phải nghĩ đến "tương lai nghề nghiệp"**
Từ kinh nghiệm nhiều năm teaching và quan sát giáo dục trong lẫn ngoài nước, thầy Nguyễn Nam Trân đưa ra những suy nghĩ thẳng thắn về phương pháp dạy – học Văn: "Tôi xin confirm một điều là tôi chỉ "anti" việc dạy kiểu đọc chép có phân nửa thôi. Nếu giáo trình cho việc đọc chép có những điểm độc đáo do nhà giáo nghĩ ra thì nó vẫn valuable. Ba người thầy cũ của tôi là Vũ Khắc Khoan, Trần Bích Lan và Trần Trọng San đều đọc chép nhưng nội dung chứa đựng phương pháp luận và tâm huyết của các thầy cô thì đọc chép vẫn có giá trị sư phạm."
Theo thầy, phương pháp "đọc – chép" không hoàn toàn "vô dụng" nếu giáo trình có chiều sâu, được xây dựng bằng tư duy sư phạm và tâm huyết của người dạy. Tuy nhiên, hạn chế lớn là thiếu interaction giữa thầy và trò, dễ dẫn đến thụ động. Ông cho rằng cần kết hợp đọc – chép với các hình thức học tập chủ động như tự nghiên cứu, thuyết trình để tránh "nhàm chán"
"Ngoài ra, nói đến sách giáo khoa thì không nên có một bộ duy nhất vì nó sẽ khiến cả thầy và trò trở nên "lazy brain". Làm như thế tưởng tiện nhưng thật ra còn tệ hơn việc đọc chép nếu giáo trình đọc chép đặc sắc. Phải đấu tranh cho sự đa dạng hóa nguồn kiến thức, đồng thời nuôi dưỡng khả năng suy xét, lọc lõi, xem info nào đúng, info nào sai và có dũng cảm "nghĩ ngược". Ở Nhật và Pháp có nhiều nhà sách viết sách giáo khoa nổi tiếng nhưng không có bộ nào bị Bộ Giáo Dục hay thầy cô áp đặt cho sinh viên dù nó "chất" đến đâu." - Thầy nhận định.
Thầy Nguyễn Nam Trân chia sẻ: "Tôi sinh ra và lớn lên ở miền Nam và ra nước ngoài khá sớm nên không biết những gì diễn ra trên cả nước và nhất là sau ngày thống nhất. Nhưng tôi nghĩ việc dạy văn và học văn phải đi liền với thực tế cuộc sống.
Điều đó nghĩa là việc học văn phải kết hợp với một ngành nghề có thể đảm bảo cuộc sống của người học văn. Tổ tiên ta thường nói: "Có thực mới vực được đạo". Các hướng đi chủ yếu liên kết ngay từ đầu theo lựa chọn cá nhân với các ngành khoa học nhân văn hay xã hội như báo chí, truyền thông, điện ảnh, kịch nghệ, sư phạm, quản lý thư viện, xuất bản, dịch thuật... và có khi còn liên quan đến các môn khoa học như tin học, xử lý dữ liệu. Khi đã định hướng như thế rồi, sinh viên sẽ dễ dàng theo đuổi đam mê của mình thoải mái hơn
Không chỉ ở Nhật, nơi việc hướng nghiệp cho sinh viên khoa Văn rất rõ ràng, tất cả phải phục vụ cho shuukatsu (tựu hoạt) nghĩa là hoạt động đi kiếm việc, các nước Tây phương cũng đều tính chuyện "đầu ra" song song với "đầu vào". Ở Pháp chẳng hạn, sinh viên trường sinh ngữ đều học thêm luật hay chính trị kinh doanh để trở thành nhà ngoại giao hay nhà quản lý các công ty quốc tế. Điều này không những không "phá" mà còn bổ sung và tăng giá trị cho việc nghiên cứu văn học nữa. Nói thế cũng để biết thêm rằng việc học văn chương tự nó còn tạo nên tinh thần nhân văn và tư duy linh hoạt cho bất kỳ cá nhân nào, bất kỳ ngành nghề nào trong xã hội.."
Nguồn: svvn.tienphong.vn