NhimBabe6733
New member
Áo dài từ xưa tới giờ vẫn là biểu tượng văn hóa đỉnh cao của Việt Nam rồi, và việc flex áo dài vào dịp Tết Nguyên đán thì chill phết luôn á – vừa giữ gìn truyền thống, vừa thể hiện những giá trị tinh thần đẹp đẽ nữa
Tết Nguyên đán, lễ hội thiêng liêng nhất trong năm của người Việt mình, là dịp để mỗi người hướng về cội nguồn, tri ân tổ tiên và sum vầy bên gia đình. Trong không gian tràn ngập sắc xuân ấy, tà áo dài thướt tha không chỉ là một bộ outfit, mà đã trở thành biểu tượng văn hóa đặc sắc, góp phần tô điểm cho ngày Tết thêm phần ý nghĩa. Vậy, điều gì đã làm nên mối gắn kết sâu sắc giữa áo dài và Tết cổ truyền của dân tộc?
Câu trả lời không chỉ nằm trong những giá trị văn hóa truyền thống mà còn được thể hiện qua sức sống mạnh mẽ của tà áo dài trong đời sống hiện đại nha. Minh chứng là, theo báo cáo từ Nền tảng phân tích dữ liệu thương mại điện tử Metric, doanh số áo dài Tết 2025 trên các nền tảng mua sắm trực tuyến như Shopee và TikTok Shop đã đạt con số ấn tượng 189,6 tỷ đồng (thống kê từ 20/12/2024 đến 19/1/2025) luôn. Con số này cho thấy áo dài vẫn luôn là lựa chọn hàng đầu của người Việt mỗi dịp xuân về
Dòng chảy thời gian không ngừng trôi, kéo theo bao đổi thay trong phong tục, tập quán. Trang phục người Việt cũng vì thế mà mang những sắc thái riêng biệt qua từng giai đoạn lịch sử. Giữa muôn vàn biến chuyển ấy, tà áo dài vẫn hiên ngang tồn tại, như một chứng nhân lịch sử.
Từ chiếc áo ngũ thân cổ đến dáng hình áo dài tân thời duyên dáng, trải qua bao thăng trầm, áo dài luôn là biểu tượng của vẻ đẹp truyền thống Việt Nam, đặc biệt là vẻ đẹp của người phụ nữ. Từ những bức tranh cổ khắc họa áo chẽn, áo giao lĩnh, đến hình ảnh áo ngũ thân, rồi tà áo dài thướt tha ngày nay, tất cả đã khắc sâu vào văn hóa Việt một dấu ấn đặc sắc, không thể phai mờ.
Trong Việt Nam phong tục, Phan Kế Bính có nhắc đến cách ăn mặc của người Việt ngày xưa, chẳng hạn như "Lễ phục của thường dân thì mũ ô sa, áo giao lĩnh, hia ủng vải, mà thứ gì cũng toàn sắc thâm", "Còn như thường phục thì ai cũng đội khăn, mặc áo chẽn, đi giày mà thôi".
Cụ thể hơn, ông mô tả "Đàn ông phần nhiều đội khăn lượt thâm, trời rét bịt thêm, khăn nhiễu quàng đầu quàng cổ. Áo trong có áo cánh lót thịt, áo ngoài dùng toàn màu thâm, trời nóng mặc áo sa, the lụa, xuyến, hoặc vải nâu, trời rét mặc áo kép, áo bông, hoặc bằng vải, the, vóc, nhiễu, nhung, dạ, quần thì mùa nào cũng vậy, chỉ dùng một màu trắng, mà phần nhiều là quần vải cát bá, dây lưng phần nhiều bằng sồi, hoặc lượt, hoặc nhiễu; giày thì hết thảy là giày hở gót, mũi nhái, da láng hoặc da me".
"Đàn bà vấn khăn thâm, hoặc lượt, hoặc nhiễu, hoặc vải nâu, trời rét thêm cái khăn vuông bằng vải nâu hoặc bằng xuyến thâm. Ở Trung Kỳ và Nam Kỳ thì đàn bà bới tóc bịt khăn vuông, chứ không vấn khăn như người Bắc Kỳ. Yếm cổ xây hoặc cổ viền, dùng màu trắng nhiều hơn cả; người Nam Kỳ không mặc yếm, có áo nịt lót thôi. Áo cũng dùng màu thâm hoặc màu nâu nhiều, duy người ăn chơi hoặc con hát mới mặc các thứ màu xanh đỏ. Quần phần nhiều mặc quần sồi, lĩnh thâm, đôi khi cũng có người mặc quần nhiễu đỏ; ở Nam Kỳ và Trung Kỳ thì người phong lưu mặc quần nhiễu trắng, chốn quê mặc quần vải xanh".
Trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn có ghi chép về sự kiện triều đình chúa Trịnh quy định y phục cho vùng Thuận Hóa: "Mùa xuân năm Bính Dần, đặt trấn phủ Nha môn ở Thuận Hóa. Bắt đầu từ tháng 7, tuyên dụ rõ rằng: Y phục bản quốc (Y phục triều Lê - Trịnh) có chế độ riêng, địa phương này trước đây cũng tuân theo quốc tục. Nay cung vâng Thượng đức, dẹp yên biên phương, trong ngoài thống nhất, chính trị và phong tục cũng nên như một. Các loại quần áo kiểu Khách (kiểu Trung Quốc) còn thấy phải đôi theo quy chế quốc tục (...) Đàn ông, đàn bà mặc áo trực lĩnh ngắn tay, ống tay áo rộng hẹp cho được tùy tiện. Áo thì từ hai bên nách trở xuống đều nên may khép lại (không xẻ tà), không được để mở, không được chiết eo. Riêng đàn ông nếu muốn mặc áo cổ tròn hẹp tay để tiện làm việc cũng được. Lễ phục dùng áo trực lĩnh ống tay dài, hoặc may bằng vải Thanh Cát, hoặc vải thâm, hoặc vải trắng tùy nghi".
Vào những năm cuối triều Nguyễn, sự phân hóa giai cấp thể hiện rõ nét qua trang phục của người Việt, đặc biệt là vào dịp Tết Nguyên đán. Trong khi giới vương tôn, quý tộc và những gia đình giàu có khoác lên mình những bộ áo dài lộng lẫy bằng gấm vóc, lụa là thượng hạng, được thêu thùa tinh xảo đến từng đường kim mũi chỉ, đầu đội khăn đóng trang trọng, thì thường dân lại có những lựa chọn giản dị hơn. Những bộ áo dài này, với phom dáng rộng rãi, chiều dài áo quá gối không quá một gang tay, được xem là tiền thân của áo dài ngày nay, với sự khác biệt giữa nam và nữ chủ yếu nằm ở kích thước. Để flex địa vị và sự giàu sang, các phu nhân và tiểu thư thường điểm xuyết thêm những món trang sức bằng vàng hoặc bạc như kiềng, vòng
Ở vùng nông thôn, sự khác biệt vùng miền cũng thể hiện rõ qua trang phục. Miền Nam vẫn quen thuộc với hình ảnh áo bà ba giản dị, mộc mạc, còn ở miền Bắc, áo tứ thân sẫm màu, kết hợp cùng áo yếm và khăn xếp trở thành trang phục đặc trưng. Tuy nhiên, một số phụ nữ có điều kiện hơn ở miền Bắc cũng may cho mình những chiếc áo ngũ thân với màu sắc tươi tắn như hồng, xanh lam, cam, lục,... dành riêng cho những dịp lễ hội, Tết đến xuân về. Dù thuộc tầng lớp nào, chiếc nón quai thao vẫn là một phụ kiện không thể thiếu của phụ nữ Việt Nam thời bấy giờ, góp phần tô điểm thêm nét duyên dáng, dịu dàng.
Ở phương Nam, áo dài đã trải qua một cuộc "lột xác" ngoạn mục để có được dáng hình kiều diễm như ngày nay. Dù những cô nàng Sài thành có thể tự tin khoác lên mình những bộ cánh tân thời, thì mỗi dịp Tết đến xuân về, tà áo dài vẫn là lựa chọn hàng đầu. Sự cởi mở trong tư duy và nét thẩm mỹ hiện đại đã thổi hồn vào chiếc áo dài Raglan ôm sát đường cong và áo dài Le Mur mang đậm dấu ấn phương Tây với cổ tròn, tay bồng và những chi tiết trang trí cầu kỳ.
Nguồn: kenh14.vn
Tết Nguyên đán, lễ hội thiêng liêng nhất trong năm của người Việt mình, là dịp để mỗi người hướng về cội nguồn, tri ân tổ tiên và sum vầy bên gia đình. Trong không gian tràn ngập sắc xuân ấy, tà áo dài thướt tha không chỉ là một bộ outfit, mà đã trở thành biểu tượng văn hóa đặc sắc, góp phần tô điểm cho ngày Tết thêm phần ý nghĩa. Vậy, điều gì đã làm nên mối gắn kết sâu sắc giữa áo dài và Tết cổ truyền của dân tộc?
Câu trả lời không chỉ nằm trong những giá trị văn hóa truyền thống mà còn được thể hiện qua sức sống mạnh mẽ của tà áo dài trong đời sống hiện đại nha. Minh chứng là, theo báo cáo từ Nền tảng phân tích dữ liệu thương mại điện tử Metric, doanh số áo dài Tết 2025 trên các nền tảng mua sắm trực tuyến như Shopee và TikTok Shop đã đạt con số ấn tượng 189,6 tỷ đồng (thống kê từ 20/12/2024 đến 19/1/2025) luôn. Con số này cho thấy áo dài vẫn luôn là lựa chọn hàng đầu của người Việt mỗi dịp xuân về
Dòng chảy thời gian không ngừng trôi, kéo theo bao đổi thay trong phong tục, tập quán. Trang phục người Việt cũng vì thế mà mang những sắc thái riêng biệt qua từng giai đoạn lịch sử. Giữa muôn vàn biến chuyển ấy, tà áo dài vẫn hiên ngang tồn tại, như một chứng nhân lịch sử.
Từ chiếc áo ngũ thân cổ đến dáng hình áo dài tân thời duyên dáng, trải qua bao thăng trầm, áo dài luôn là biểu tượng của vẻ đẹp truyền thống Việt Nam, đặc biệt là vẻ đẹp của người phụ nữ. Từ những bức tranh cổ khắc họa áo chẽn, áo giao lĩnh, đến hình ảnh áo ngũ thân, rồi tà áo dài thướt tha ngày nay, tất cả đã khắc sâu vào văn hóa Việt một dấu ấn đặc sắc, không thể phai mờ.
Trong Việt Nam phong tục, Phan Kế Bính có nhắc đến cách ăn mặc của người Việt ngày xưa, chẳng hạn như "Lễ phục của thường dân thì mũ ô sa, áo giao lĩnh, hia ủng vải, mà thứ gì cũng toàn sắc thâm", "Còn như thường phục thì ai cũng đội khăn, mặc áo chẽn, đi giày mà thôi".
Cụ thể hơn, ông mô tả "Đàn ông phần nhiều đội khăn lượt thâm, trời rét bịt thêm, khăn nhiễu quàng đầu quàng cổ. Áo trong có áo cánh lót thịt, áo ngoài dùng toàn màu thâm, trời nóng mặc áo sa, the lụa, xuyến, hoặc vải nâu, trời rét mặc áo kép, áo bông, hoặc bằng vải, the, vóc, nhiễu, nhung, dạ, quần thì mùa nào cũng vậy, chỉ dùng một màu trắng, mà phần nhiều là quần vải cát bá, dây lưng phần nhiều bằng sồi, hoặc lượt, hoặc nhiễu; giày thì hết thảy là giày hở gót, mũi nhái, da láng hoặc da me".
"Đàn bà vấn khăn thâm, hoặc lượt, hoặc nhiễu, hoặc vải nâu, trời rét thêm cái khăn vuông bằng vải nâu hoặc bằng xuyến thâm. Ở Trung Kỳ và Nam Kỳ thì đàn bà bới tóc bịt khăn vuông, chứ không vấn khăn như người Bắc Kỳ. Yếm cổ xây hoặc cổ viền, dùng màu trắng nhiều hơn cả; người Nam Kỳ không mặc yếm, có áo nịt lót thôi. Áo cũng dùng màu thâm hoặc màu nâu nhiều, duy người ăn chơi hoặc con hát mới mặc các thứ màu xanh đỏ. Quần phần nhiều mặc quần sồi, lĩnh thâm, đôi khi cũng có người mặc quần nhiễu đỏ; ở Nam Kỳ và Trung Kỳ thì người phong lưu mặc quần nhiễu trắng, chốn quê mặc quần vải xanh".
Trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn có ghi chép về sự kiện triều đình chúa Trịnh quy định y phục cho vùng Thuận Hóa: "Mùa xuân năm Bính Dần, đặt trấn phủ Nha môn ở Thuận Hóa. Bắt đầu từ tháng 7, tuyên dụ rõ rằng: Y phục bản quốc (Y phục triều Lê - Trịnh) có chế độ riêng, địa phương này trước đây cũng tuân theo quốc tục. Nay cung vâng Thượng đức, dẹp yên biên phương, trong ngoài thống nhất, chính trị và phong tục cũng nên như một. Các loại quần áo kiểu Khách (kiểu Trung Quốc) còn thấy phải đôi theo quy chế quốc tục (...) Đàn ông, đàn bà mặc áo trực lĩnh ngắn tay, ống tay áo rộng hẹp cho được tùy tiện. Áo thì từ hai bên nách trở xuống đều nên may khép lại (không xẻ tà), không được để mở, không được chiết eo. Riêng đàn ông nếu muốn mặc áo cổ tròn hẹp tay để tiện làm việc cũng được. Lễ phục dùng áo trực lĩnh ống tay dài, hoặc may bằng vải Thanh Cát, hoặc vải thâm, hoặc vải trắng tùy nghi".
Vào những năm cuối triều Nguyễn, sự phân hóa giai cấp thể hiện rõ nét qua trang phục của người Việt, đặc biệt là vào dịp Tết Nguyên đán. Trong khi giới vương tôn, quý tộc và những gia đình giàu có khoác lên mình những bộ áo dài lộng lẫy bằng gấm vóc, lụa là thượng hạng, được thêu thùa tinh xảo đến từng đường kim mũi chỉ, đầu đội khăn đóng trang trọng, thì thường dân lại có những lựa chọn giản dị hơn. Những bộ áo dài này, với phom dáng rộng rãi, chiều dài áo quá gối không quá một gang tay, được xem là tiền thân của áo dài ngày nay, với sự khác biệt giữa nam và nữ chủ yếu nằm ở kích thước. Để flex địa vị và sự giàu sang, các phu nhân và tiểu thư thường điểm xuyết thêm những món trang sức bằng vàng hoặc bạc như kiềng, vòng
Ở vùng nông thôn, sự khác biệt vùng miền cũng thể hiện rõ qua trang phục. Miền Nam vẫn quen thuộc với hình ảnh áo bà ba giản dị, mộc mạc, còn ở miền Bắc, áo tứ thân sẫm màu, kết hợp cùng áo yếm và khăn xếp trở thành trang phục đặc trưng. Tuy nhiên, một số phụ nữ có điều kiện hơn ở miền Bắc cũng may cho mình những chiếc áo ngũ thân với màu sắc tươi tắn như hồng, xanh lam, cam, lục,... dành riêng cho những dịp lễ hội, Tết đến xuân về. Dù thuộc tầng lớp nào, chiếc nón quai thao vẫn là một phụ kiện không thể thiếu của phụ nữ Việt Nam thời bấy giờ, góp phần tô điểm thêm nét duyên dáng, dịu dàng.
Ở phương Nam, áo dài đã trải qua một cuộc "lột xác" ngoạn mục để có được dáng hình kiều diễm như ngày nay. Dù những cô nàng Sài thành có thể tự tin khoác lên mình những bộ cánh tân thời, thì mỗi dịp Tết đến xuân về, tà áo dài vẫn là lựa chọn hàng đầu. Sự cởi mở trong tư duy và nét thẩm mỹ hiện đại đã thổi hồn vào chiếc áo dài Raglan ôm sát đường cong và áo dài Le Mur mang đậm dấu ấn phương Tây với cổ tròn, tay bồng và những chi tiết trang trí cầu kỳ.
Nguồn: kenh14.vn