Sắn Việt Nam - "vàng trắng" top 3 thế giới đang gặp drama: Xuất khẩu tăng vọt nhưng thu về ít ỏi

BinXinh1952

New member
Nội dung:

Có một loại "vàng trắng" dưới lòng đất mà Việt Nam mình đang đứng top 3 thế giới về xuất khẩu đó. Đó chính là... sắn nha các bạn ơi!

d0a4eab2fed7d2d9f52d.jpg


Thật ra thì sắn và các sản phẩm từ sắn là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu cực kỳ quan trọng của Việt Nam đó. Nó không chỉ đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp mà còn tạo việc làm và thu nhập cho bà con nông dân nữa

Theo Hiệp hội Sắn Việt Nam cho biết, trong khi nhiều mặt hàng nông sản chủ lực gặp khó, thì ngành sắn vẫn giữ phim ổn định. Cụ thể trong năm 2025, tổng giá trị tiêu thụ nội địa và xuất khẩu của ngành sắn ước đạt khoảng 1,3 - 1,5 tỷ USD. Con số này đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu sắn lớn thứ ba thế giới và là quốc gia tiêu thụ sắn lớn thứ hai toàn cầu luôn

Nhưng mà có một cái plot twist ở đây nè! Theo số liệu thống kê của Cục Hải quan, trong năm 2025, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam đạt trên 3,9 triệu tấn, tương đương hơn 1,26 tỷ USD; tăng 52,2% về lượng nhưng chỉ tăng có 9,8% về kim ngạch thôi Các chuyên gia nhận định, sự chênh lệch lớn giữa tốc độ tăng trưởng về lượng và kim ngạch cho thấy hiệu quả xuất khẩu của mặt hàng sắn vẫn chưa tương xứng với quy mô xuất khẩu. Tức là bán nhiều mà thu về ít, đau não lắm!

Thêm nữa là xuất khẩu sắn của Việt Nam trong năm 2025 vẫn chủ yếu sang thị trường Trung Quốc, đạt khoảng 3,7 triệu tấn, tương đương 1,17 tỷ USD (chiếm 94,1% về tổng lượng và 92,6% tổng kim ngạch xuất khẩu sắn của cả nước). Nhưng so với năm 2024, tổng sản lượng xuất khẩu sắn sang Trung Quốc tăng 54,3% nhưng kim ngạch lại chỉ tăng 10,8%. Điều này phản ánh xu hướng giá xuất khẩu bình quân giảm, cũng như nguy cơ bị ép giá vì phụ thuộc quá nhiều vào một thị trường

Bên cạnh Trung Quốc, nước ta còn xuất khẩu sắn sang một số thị trường khác như Malaysia, Đài Loan (Trung Quốc) và Philippines. Thế nhưng quy mô xuất khẩu sang những thị trường này còn quá nhỏ và vẫn chưa đủ để tạo ra sự cân bằng.

Theo các chuyên gia, chuỗi cung ứng của ngành hàng sắn Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều thách thức, đặc biệt là trước các yêu cầu mới về truy xuất nguồn gốc và môi trường.

1c65b9db5a0ba8ac41dc.png


Thông tin này được chia sẻ và thảo luận tại cuộc họp với chủ đề "Chuỗi cung ứng ngành sắn Việt Nam: Thực trạng và thách thức", Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam phối hợp với Hiệp hội Sắn Việt Nam và Tổ chức Forest Trends tổ chức tại Hà Nội, ngày 28/1.

Tại cuộc họp, ông Nghiêm Minh Tiến, Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam, cho biết ngành sản xuất, chế biến và thương mại sắn có đóng góp quan trọng trong thương mại nông sản của Việt Nam. Thời gian qua, ngành sắn cũng đã từng bước đầu tư theo hướng thân thiện với môi trường và mở rộng khả năng ứng dụng của sản phẩm.

Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam chia sẻ thêm, hiện nay, Việt Nam vừa là nước sản xuất sắn nguyên liệu lớn, vừa là trung tâm chế biến và xuất khẩu sắn quy mô trong khu vực. Trên thực tế, tổng nguồn cung sắn nguyên liệu hàng năm của nước ta đạt trên 18 triệu tấn tươi. Trong đó, khoảng 58% từ sản xuất trong nước và 42% từ nhập khẩu, chủ yếu từ Lào và Campuchia. Diện tích trồng sắn trong nước khoảng hơn 500.000 ha, từ đó cung cấp trên dưới 10 triệu tấn sắn tươi mỗi năm. Do đó, lượng sắn nhập khẩu tương đương khoảng 8 triệu tấn.

Các chuyên gia cho rằng, trong bối cảnh sản lượng xuất khẩu sắn tăng mạnh nhưng kim ngạch lại tăng chậm, giải pháp căn bản và lâu dài chính là nâng cao giá trị gia tăng thông qua việc đẩy mạnh chế biến sâu. Trước mắt, cần từng bước giảm tỷ trọng xuất khẩu sắn lát khô và tinh bột sắn sơ chế. Đồng thời, cần khuyến khích đầu tư phát triển những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, chẳng hạn như tinh bột biến tính, sản phẩm phục vụ ngành thực phẩm, dược phẩm... Theo các chuyên gia, hướng đi này quan trọng giúp nâng cao hiệu quả, tính bền vững, cũng như giảm được sự phụ thuộc vào biến động của thị trường nguyên liệu thô

Ngoài ra, có một thách thức không nhỏ mà ngành sắn Việt Nam phải đối mặt là vấn đề truy xuất nguồn gốc. Về vấn đề này, ông Nguyễn Vinh Quang, đại diện của Tổ chức Forest Trends cho biết, để bảo đảm truy xuất nguồn gốc, ngành sắn Việt Nam cần tái cấu trúc chuỗi cung hiện nay, đồng thời tăng cường kiểm soát khâu sản xuất, đặc biệt là quản lý việc sử dụng đất. Hơn nữa, cần từng bước chuyển các hoạt động phi chính thức sang chính thức, minh bạch hóa toàn bộ chuỗi và đảm bảo đầy đủ bằng chứng phục vụ truy xuất nguồn gốc.

Đồng quan điểm, TS Tô Xuân Phúc của Tổ chức Forest Trends bổ sung giải pháp là tái cấu trúc lại chuỗi cung theo hướng có thể thực hiện truy xuất đòi hỏi ngành cần nhận được những ưu tiên thỏa đáng từ Chính phủ và các cơ quan hữu quan. Theo ông, so với các ngành hàng tỷ USD khác như cà phê, gỗ... ngành sắn hiện chưa nhận được sự quan tâm thỏa đáng từ Chính phủ. Thực tế với 1,2 triệu nông hộ (bao gồm nhiều hộ đồng bào ở những vùng khó khăn) hiện đang tham gia khâu sản xuất, ngành sắn xứng đáng nhận được sự quan tâm cao của Chính phủ

Theo TS Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, khó khăn lớn nhất của ngành sắn hiện nay trong việc đảm bảo truy xuất nguồn gốc nằm ở phần nguyên liệu, bao gồm cả từ nông hộ trong nước và từ nhập khẩu.

Mặt khác, theo ông, nguồn cung trong nước hiện chủ yếu được trồng trên những diện tích nhỏ lẻ của nông hộ, được tiêu thụ qua thương lái và thiếu thông tin về các hoạt động sử dụng đất, giao dịch giữa hộ và thương lái. Do đó khiến việc truy xuất nguồn gốc khó khăn và nhiều trường hợp là không thể. Hơn nữa, khó khăn trong luồng cung nhập khẩu tương tự, khi các doanh nghiệp nhập khẩu không biết hoặc không có thông tin về vùng trồng và thiếu bằng chứng về các giao dịch

Ở góc độ doanh nghiệp, Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam khẳng định, doanh nghiệp ngành sắn trong nước cam kết hướng tới xây dựng chuỗi cung minh bạch, đáp ứng yêu cầu về bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường và truy xuất nguồn gốc. Cùng với đó, các doanh nghiệp ngành sắn kiến nghị các cơ quan quản lý sớm có hướng dẫn cụ thể và cơ chế hỗ trợ phù hợp để doanh nghiệp thực hiện hiệu quả các yêu cầu mới.

Trên thực tế, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách quan trọng nhằm định hướng phát triển bền vững ngành sắn, nổi bật là Đề án "Phát triển bền vững ngành hàng sắn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050", cùng với các cơ chế khuyến khích liên kết sản xuất, phát triển phù hợp.

Nhưng việc triển khai các chính sách này trên thực tế còn nhiều hạn chế. Cụ thể, thiếu hướng dẫn cụ thể, thiếu công cụ giám sát và chưa tạo được các động lực đủ mạnh để thúc đẩy các tác nhân trong chuỗi cung tuân thủ các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, minh bạch và bảo vệ rừng

Nguồn: soha.vn
 
Back
Top