Ơ hay, Canada có cả đảo chế tạo vũ khí sinh học thời chiến tranh à?

Dù gặp đủ thứ khó khăn, nhưng dàn nhà khoa học vẫn cày cuốc không ngừng nghỉ. Đến cuối 1943, đảo Grosse Île đã "flex" được 120kg bào tử bệnh than mỗi tuần – con số này đủ để nhồi 1.500 quả bom sinh học chuẩn mực để thả xuống từ trên trời luôn đó!

738543b920d837741e90.png


Sau vụ án ở đảo Gruinard, chính phủ Anh chợt nhận ra làm vũ khí sinh học ngay trên đất nước mình hơi "nguy to" Thế là họ quay sang thuê đất thuộc địa bên kia Đại Tây Dương. Đây không phải lần đầu hay cuối cùng Anh "nhờ vả" Canada để test các loại vũ khí nguy hiểm đâu nhé.

Sau một loạt thí nghiệm tại Porton Down – nơi lính Anh phải "ăn" khí mù tạt, Anh ra lệnh chuyển toàn bộ các cuộc thử nghiệm tiếp theo sang Suffield, một căn cứ quân sự của Canada ở Alberta. Tháng 5/1942 tại đây, 712 anh lính Canada tình nguyện hành quân đến khu thử nghiệm, chỉ đeo mặt nạ phòng độc + trang bị chiến đấu thông thường, rồi đứng nhìn máy bay bay cao hơn 300m phun khí mù tạt xuống họ. Khi khí đã thấm đẫm vào quần áo, họ được đưa về căn cứ để... nghiên cứu tác động

Khí mù tạt là thứ gây phồng rộp khủng khiếp, chạm vào da là bỏng hóa chất cực đau, mất hàng tháng trời mới lành. Mỗi lần bị thả khí, các anh được trả 20 đô. Các thí nghiệm tương tự sau đó còn được làm trên lính ở Inisfall (Australia) và Karachi (Ấn Độ thuộc Anh), khiến Đế chế Anh trở thành quốc gia duy nhất ngoài Nhật Bản test vũ khí hóa học trên người trong Thế chiến thứ hai.

Nhưng điều shock hơn là năm 1950, Canada còn đề nghị cho Anh thử quả bom nguyên tử đầu tiên ở phía bắc nước mình, gần thị trấn Churchill – tuy nhiên London từ chối vì chọn Australia

10add18593c3cc7a5317.jpg


Trong khi đó, sau cái chết của Sir Frederick Banting, hoạt động nghiên cứu vũ khí sinh học ở Canada bắt đầu "nguội" dần.

Tháng 10/1941, Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Henry Stimson gửi thư cho Tổng thống Franklin Roosevelt kêu gọi lập chương trình vũ khí sinh học của Mỹ. Do chương trình Canada "xịn" hơn nên họ deal với nhau: Mỹ tài trợ cho Canada phát triển vũ khí sinh học cho đến khi trung tâm ở Fort Detrick, bang Maryland hoạt động.

9c45a16072a6007442de.jpg


Trùng hợp là lúc này Anh cũng cần một trung tâm phát triển vũ khí mới. Với 200,000 USD từ quỹ Chính phủ Mỹ trong tay, hai giám đốc dự án Canada là E.G.D Murray và Otto Maass bắt đầu hunt địa điểm phù hợp cho phòng thí nghiệm vũ khí sinh học bí mật. Họ nhanh chóng tìm được nơi ưng ý – trạm cách ly cũ ở đảo Grosse Île, một chỗ có quá khứ "đen tối" lắm luôn.

Trạm cách ly Grosse Île được thành lập năm 1832, thay trạm Pointe-Lévy cũ. Cuối những năm 1840, Canada đón hàng trăm nghìn người Ireland nhập cư chạy trốn "nạn đói khoai tây". Nhiều người trong số này đến trên "tàu quan tài" – loại tàu gỗ giá rẻ chở khách xuyên Đại Tây Dương – với điều kiện đông đúc, mất vệ sinh trong hầm tàu dẫn đến dịch bệnh như sốt phát ban và dịch tả. Chỉ riêng năm 1847, hơn 100,000 người đổ đến Quebec, có đến 40 tàu xếp hàng dài 3km dọc sông chờ dỡ hàng

Dòng người khổng lồ này nhanh chóng "áp đảo" cơ sở vật chất hạn chế của hòn đảo. Dịch bệnh bùng phát và lây lan sang phần còn lại của thành phố. Phải đến năm 1854, cải thiện vệ sinh và giảm người nhập cư mới chấm dứt được dịch. Từ 1832 đến 1932, khoảng 500,000 người nhập cư vào Canada qua cửa ngõ Grosse Île, khiến nơi này – cùng Pier 21 ở Halifax – trở thành địa điểm tương tự Đảo Ellis ở New York. Trong số người mới đến, khoảng 5,000 người đã mất vì bệnh tật, thi thể được chôn trong những ngôi mộ tập thể trên chính đảo Grosse Île và đảo Point Charles gần đó.

bd8ad76b02918539f9ed.jpg


Grosse Île là địa điểm "chuẩn chỉnh" cho việc nghiên cứu vi khuẩn vì nhiều lý do. Thứ nhất, nó xa xôi và khó tiếp cận, trung tâm dân cư gần nhất là ngôi làng nhỏ Montmagny bên kia sông. Thứ hai, nó tự cung tự cấp 100% với nhà máy điện, nồi hơi, ký túc xá, nhà thờ và bệnh viện riêng. Nhưng hấp dẫn nhất là có sẵn khu nhà khử nhiễm, trong đó có hai buồng khử khuẩn chạy bằng hơi nước khổng lồ. Người nhập cư đến đây phải cởi quần áo cho vào buồng khử khuẩn trước khi tắm, rồi lấy lại quần áo sạch bên kia. Murray và Maass nghĩ rằng những căn phòng này sẽ "perfect" để nuôi số lượng lớn bào tử bệnh than.

Nhưng không phải ai cũng đồng tình. Charles Mitchell, bác sĩ thú y trưởng Canada, phản đối rằng hòn đảo chưa đủ xa, chỉ cách bờ sông 6km. Ông cho rằng để đủ an toàn, phải cách bờ ít nhất 80km.

Nhưng do không tìm được chỗ nào khác nên ý kiến của Mitchell bị bác. Năm 1942, phòng thí nghiệm Grosse Île bắt đầu hoạt động dưới cái tên "ngụy trang" là Trạm Kiểm soát Dịch bệnh Chiến tranh.

Hòn đảo, dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Richard Duthy và được canh gác bởi 100 binh sĩ, được chia thành hai khu. Phần phía tây thực hiện "Dự án R" nghiên cứu dịch bệnh rinderpest, đầu phía đông là khu của "Dự án N" nghiên cứu bệnh than.

Bệnh than được "ươm" trong các khay phẳng ở hai buồng khử nhiễm, vì lý do an toàn nên các nhà khoa học bị khóa kín bên trong. Nhiều người nhận ra họ không thể chịu đựng làm việc trong buồng khử với đầy đủ đồ bảo hộ. Vì vậy nhiều người áp dụng phương pháp "kỳ quặc" là làm việc khỏa thân ngoại trừ mặt nạ phòng độc Cách này còn có lợi ích là giúp khử nhiễm cơ thể dễ dàng hơn.

b88b35fa0bef1a8c7b23.jpg


Nhưng ngay cả biện pháp như thế cũng nhanh chóng tỏ ra "fail" tận gốc. Trong báo cáo ban đầu về hoạt động của Grosse Île, Thiếu tá Duthy phàn nàn đảo này có quá nhiều ruồi, chúng dễ dàng đậu trên thiết bị phòng thí nghiệm và mang theo bào tử chết người vào đất liền.

Sau đó, tháng 8/1943, một số nhà khoa học mắc những căn bệnh bí ẩn và phải cách ly tại bệnh viện ở Thành phố Quebec. Xét nghiệm xác nhận họ bị nhiễm bệnh than

Vụ việc gióng lên hồi chuông cảnh báo với các giám đốc dự án, nhiều người kêu gọi đóng cửa phòng thí nghiệm. Nhưng cuối cùng những lời kêu gọi bị bác vì lý do chính trị – nhiều người trong dự án muốn chứng minh các nhà khoa học Canada "xịn" không kém đồng nghiệp Mỹ.

Chưa kể còn có mối nguy khác. Mùa thu 1943, tàu ngầm Đức bắt đầu tiến sâu vào cửa sông St. Lawrence, làm dấy lên lo ngại họ sẽ phát hiện ra trạm Grosse Île.

Sự biệt lập cũng bắt đầu gây hậu quả. Do tính tuyệt mật, quân đồn trú không thể mang gia đình theo; vì buồn chán, họ mò đi giải khuây ở Montmagny gần đó. Điều này dẫn đến lo ngại bí mật bị rò rỉ, mặc dù lúc này cư dân Montmagny đã nghi ngờ có gì đó sai sai và bắt đầu tránh xa nhân viên trên đảo như tránh bệnh dịch hạch vậy.

Tuy nhiên, bất chấp những khó khăn, việc sản xuất bệnh than vẫn tiến triển và đến cuối 1943, Grosse Île đã sản xuất 120kg bào tử bệnh than mỗi tuần – đủ để lấp đầy 1.500 quả bom tiêu chuẩn thả từ trên không.

Tháng 8/1944, những quả bom này được thử nghiệm rộng rãi tại khu Suffield, cho dù Suffield không có rào cản địa lý tự nhiên để ngăn các bào tử chết người trôi vào khu dân cư Địa điểm này đến nay vẫn là khu vực hạn chế do một thực tế đáng báo động: bào tử bệnh than có thể tồn tại trong đất tới 100 năm.

Dù sao thì người Anh cũng rất "impressed" với kết quả và đã đặt mua 500,000 quả bom bệnh than từ Suffield và Grosse-Île

Xem tiếp Kỳ cuối: Mầm bệnh đủ để giết 30 lần dân số thế giới

936a45b97e8c3c9caf55.jpg


Nguồn: soha.vn
 
Back
Top