Mỹ sở hữu "con mắt thần thánh", tàu ngầm Nga-Trung giờ trốn kiểu gì đây?

GauBong137

New member
6b241206395bd7dec868.jpg


Anh Edward Chang khẳng định dù đã "già" nhưng cỗ máy bay huyền thoại này vẫn xử đẹp được cả những con tàu ngầm xịn sò nhất của Nga-Trung nha!

Tính đến 2018, có mấy chiếc máy bay đã "cày cuốc" cho quân đội Mỹ tới 50 năm hoặc hơn luôn á. Nhờ có tính năng xịn từ đầu, cộng thêm được nâng cấp công nghệ đều đặn, nên mấy "cụ non" này vẫn hoạt động ngon lành trong thập kỷ thứ 2 của thế kỷ 21.

Một trong số đó phải kể đến Lockheed P-3 Orion, đang "on top" trong biên chế Hải quân Mỹ. Lúc đầu được thiết kế để tuần tra biển và chống tàu ngầm, nhưng sau này P-3 đã được cải tiến thành máy bay đa nhiệm, chứng minh được giá trị ngay cả trong những nhiệm vụ nằm ngoài khả năng ban đầu.

Vì thế mà P-3 được coi là một trong những máy bay đa năng nhất của quân đội Mỹ đó!

Trên tạp chí National Interest, anh Edward Chang - cây viết tự do chuyên về quốc phòng-quân sự và chính sách đối ngoại - cho rằng dù đã hoạt động "lâu đời" nhưng P-3 vẫn đủ sức "xóa sổ" các mẫu tàu ngầm xịn nhất của Nga và Trung Quốc.

Lý do mà anh ấy đưa ra chính là những tính năng "xịn xò" cùng khả năng "vô cùng có giá trị" mà P-3 đã thể hiện trong suốt quá trình hoạt động nè.

c6a2ab1049aaa3ed0aed.jpg


## Tính năng "xịn sò không tưởng"

Cụ thể theo Edward, P-3 Orion ra mắt năm 1962 với tên gọi ban đầu là P3V-1, được chế tạo dựa trên khung máy bay thương mại L-188 Electra. Một tháng sau, quân đội Mỹ đổi tên hệ thống này, và P3V-1 thành P-3A.

Trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Orion chủ yếu giữ vai trò chống tàu ngầm và tuần tra biển, theo dõi mấy con tàu ngầm Liên Xô và sẵn sàng "bay màu" chúng nếu cần thiết.

Tuy nhiên, sự linh hoạt của nó được phát hiện sớm; một số máy bay P-3 đã được chuyển đổi để phù hợp với nhiều vai trò quân sự và phi quân sự khác nhau, từ nghiên cứu khoa học, khí tượng học, duy trì an ninh biên giới và hải quan, cho đến trinh sát điện tử (ELINT).

Vai trò cuối cùng (ELINT) đã thúc đẩy sự ra đời của phiên bản EP-3 Aries. Năm 2001, tại đảo Hải Nam, một chiếc EP-3 của Hải quân Mỹ từng va chạm với máy bay chiến đấu Trung Quốc, khiến phi công Trung Quốc thiệt mạng.

Phi hành đoàn Mỹ hạ cánh an toàn nhưng cả 24 thành viên bị Trung Quốc bắt giữ trong 10 ngày luôn.

Nhiều quốc gia khác cũng công nhận độ "xịn" của P-3 và kết quả là máy bay này đã phục vụ 18 quốc gia khác ngoài Mỹ.

Danh sách khách hàng nước ngoài của P-3 khá "diverse", từ đồng minh đáng tin cậy như Australia cho tới những kẻ thù "không đội trời chung" như Iran (mặc dù thương vụ được thực hiện dưới thời vua Iran, khi nước này vẫn còn là đồng minh của Mỹ).

Ở thời kỳ đỉnh cao, có tới 24 phi đoàn P-3 hoạt động khắp nước Mỹ, cùng với 13 phi đoàn Dự bị Hải quân, 3 đơn vị thử nghiệm & đánh giá, 1 phi đoàn phát triển hải dương học, cùng 2 phi đoàn "các dự án đặc biệt" với các hoạt động được bảo mật cao.

Hiện tại, lực lượng Trinh sát và Tuần tra biển (MPR) chỉ còn một nửa quy mô trước đây thôi.

Những chiếc P-3 còn phục vụ được chia vào hai nhóm Tuần tra – Trinh sát Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Trong đó nhóm MPR Đại Tây Dương gồm Không đoàn Tuần tra và Trinh sát số 11, nhóm Thái Bình Dương gồm Không đoàn số 1, số 2 và một phần số 11.

Không giống thời kỳ Chiến tranh Lạnh, lực lượng MPR đóng quân chủ yếu tại căn cứ không quân hải quân Jacksonville ở Đại Tây Dương và căn cứ không quân hải quân đảo Whidbey ở Thái Bình Dương.

Mặc dù ban đầu có tổng cộng 18 phi đoàn ở cả 2 nhóm, nhưng sự xuất hiện của "đàn em" Boeing P-8A Poseidon đã khiến số lượng phi đoàn P-3 giảm xuống chỉ còn 3, toàn bộ đóng quân tại căn cứ đảo Whidbey.

Đó là 3 phi đoàn VP-1 "Screaming Eagles", VP-40 "Fighting Marlins", và VP-46 "Grey Knights" – những phi đoàn "già" thứ hai trong quân đội Mỹ đấy!

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn 2 phi đoàn Dự bị Hải quân, 1 phi đoàn "các dự án đặc biệt" đóng tại căn cứ Thủy quân lục chiến Mỹ ở Hawaii, và phi đoàn VP-30 ở Jacksonville (gồm cả hai loại P-3 Orion và P-8 Poseidon).

Ngoài ra, không thể không kể đến các máy bay EP-3E Aries II vẫn tiếp tục hoạt động trong phi đoàn VQ-1 "World Watchers" ở căn cứ Whidbey nha.

## "Con mắt nhìn thấu tất cả" đây rồi! ️

Do phần lớn được xem là phương tiện hỗ trợ nên kể từ khi được đưa vào biên chế, các máy bay Orion đã tham gia gần như tất cả các cuộc xung đột quân sự lớn có sự xuất hiện của Mỹ.

Tháng 10/1962, chỉ 2 tháng sau khi đi vào hoạt động, các máy bay P-3 đã tuần tra vùng biển gần Cuba để triển khai lệnh phong tỏa chống lại quốc gia này trong suốt cuộc khủng hoảng tên lửa.

Trong Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, các máy bay P-3 thực hiện nhiệm vụ trinh sát trên chiến trường và đã chứng tỏ nó là phương tiện tác chiến cực kỳ có giá trị. Các kíp lái Orion đã phối hợp tấn công các tàu hải quân Iraq, góp công phá hủy hàng chục tàu chiến mặt nước của quân đội này.

Khi Liên Xô sụp đổ vào cùng năm đó, quân đội Mỹ đã giảm nhu cầu sử dụng máy bay P-3 nhưng không giảm vai trò căn bản của nó. Thay vào đó, P-3 cần thể hiện những khả năng khác ngoài chống tàu ngầm và tuần tra để vượt ra ngoài những giới hạn mà môi trường phòng thủ hậu Chiến tranh Lạnh đã tạo ra.

Hai năm sau đó, P-3 đã chứng tỏ giá trị khi hỗ trợ lực lượng Các chiến dịch Đặc biệt của Mỹ ở Somalia.

Trong trận đánh Mogadishu, P-3 đã cung cấp cái nhìn toàn cảnh về trận chiến, chứng minh nó là "con mắt có thể nhìn thấu tất cả" ở phía sau các binh lính đang chiến đấu trên mặt đất. Theo thời gian, khả năng này càng trở nên quan trọng hơn.

Kể từ khi bắt đầu vào năm 2001, cuộc chiến của Mỹ tại Afghanistan đã nhận được sự hỗ trợ lớn từ các máy bay P-3 trong công tác săn lùng các phần tử khủng bố al-Qaeda và tiêu diệt các tay súng Taliban.

Mặc dù là phương tiện tác chiến trên biển nhưng các gói nâng cấp thông qua chương trình Nâng cao năng lực tác chiến chống mục tiêu nổi (AIP) đã cho phép Orion quan sát tốt hơn tình hình trên bờ biển, cả những vùng địa hình đồi núi của Trung Á luôn.

P-3 không chỉ hỗ trợ lực lượng đặc nhiệm Mỹ, mà còn tìm kiếm các kẻ địch núp trong vùng địa hình hiểm trở và các hang động mà chúng chiếm giữ, thông qua thiết bị dò hồng ngoại đó.

Cuộc chiến chống khủng bố đã làm tăng nhu cầu đối với P-3, ngay cả khi quân đội Mỹ có trong tay nhiều phương tiện tình báo, trinh sát, giám sát (ISR), từ máy bay chỉ huy và cảnh báo sớm E-3 Sentry, tới máy bay tác chiến điện tử E-8 và các loại UAV.

Hiện tại, P-3 vẫn tiếp tục chứng tỏ giá trị của nó trong các cuộc xung đột trên khắp thế giới. Phiên bản nâng cấp mới nhất của P-3 được trang bị nhiều cảm biến và thiết bị điện tử siêu xịn, trong đó có radar khẩu độ tổng hợp với độ phân giải cao.

Ngoài vũ khí chống tàu ngầm, phiên bản mới nhất còn mang theo các loại tên lửa AGM-65F Maverick, AGM-84G Harpoon ICR, AGM-84K SLAM-ER ATA, và 11 bom thông minh GBU-32(V)2/B luôn á.

Mặc dù P-8 là mẫu máy bay tinh vi hơn nhưng lại thiếu đi một số tính năng đã khiến P-3 trở thành phương tiện tác chiến không thể thiếu của quân đội Mỹ. Ví dụ khả năng mang vũ khí của P-8 khá hạn chế, nó không thể triển khai tên lửa Maverick hay bom thông minh JDAM.

Về phương tiện tác chiến chống tàu ngầm, P-8 không có thiết bị phát hiện điểm từ tính bất thường (MAD - dùng để phát hiện sự xáo trộn của từ trường Trái đất do tàu ngầm di chuyển trong lòng biển gây ra), dù Hải quân Mỹ khẳng định điều đó sẽ không cản trở khả năng săn tàu ngầm của nó.

Nguồn: soha.vn
 
Back
Top