Các cơ quan liên bang Mỹ đã "đu trend" máy phát hiện nói dối từ những năm 1950 để flex trước dư luận rằng họ có thể vạch mặt bọn gián điệp cực đỉnh. Anh Francis Gary Powers đã có trải nghiệm đầu đời với máy phát hiện nói dối ngay sau khi đăng ký làm phi công cho chương trình U-2 của CIA vào tháng 1/1956.
Trong cuốn hồi ký tự viết, cựu phi công Powers kể lại cảnh mình bị đưa vào một căn phòng và phải đối mặt với cả tá câu hỏi khó nhằn cực kỳ. Dưới đây là bài viết của tác giả John Baesler - giáo sư Sử học tại Đại học công Saginaw Valley (Michigan) và là tác giả của cuốn sách "Sự thật hiển nhiên: Máy phát hiện nói dối và Cuộc nội chiến Hoa Kỳ".
Vụ phi công Mỹ bị "bắt giữ" trên đất Liên Xô - drama thật sự đấy!
Phi công Powers từng trải qua bài kiểm tra phát hiện nói dối với mức độ căng thẳng lên đến max. Trường hợp của anh không phải là phổ biến nhưng máy phát hiện nói dối lúc đó được đánh giá là công cụ hữu ích vô cùng, xuất phát từ nhiều lý do cần phải tìm ra sự thật.
Sự ra đời của máy phát hiện nói dối là để giải quyết bài toán khó nhằn thời Chiến tranh Lạnh: làm sao người Mỹ có thể thực hiện cam kết chống lại kẻ thù chuyên chế mà không tự biến mình thành... chuyên chế luôn?
Để giải quyết vấn đề này, các cơ quan liên bang - đặc biệt là CIA - bắt đầu sử dụng công nghệ gây tranh cãi được các nhà tâm lý học phát triển từ đầu thế kỷ 20. Sau đó cỗ máy được cảnh sát và các doanh nghiệp tư nhân tinh chỉnh và dùng từ những năm 1920.
Các phép đo trong máy phát hiện nói dối thường dựa vào những thay đổi trong huyết áp, độ sâu hơi thở và độ dẫn điện của da... nhưng các phép đo này chưa bao giờ chứng minh được những dấu hiệu đáng tin cậy của việc nói dối.
Không chỉ các rối loạn cảm xúc gây khó khăn trong nghiên cứu phòng thí nghiệm, mà những cảm xúc đó còn khác nhau ở mỗi người và có thể bị "hack" bằng các biện pháp đối phó (ví dụ như tự véo mình trước khi trả lời chẳng hạn ).
Trong những cuộc sàng lọc quy mô lớn thì không thể tránh khỏi "kết quả dương tính giả" (người vô tội bị oan là lừa đảo). Hơn nữa, câu hỏi về sự dối trá trong suốt một bài test có thể cho thấy người đó không phù hợp về mặt kỹ thuật đơn thuần hay không?
Trong các phân tích cuối cùng, các cơ quan an ninh Hoa Kỳ chưa bao giờ đưa ra định nghĩa rõ ràng về đặc điểm cá nhân mà một người mẫu mực phải có. Thay vào đó, máy phát hiện nói dối sẽ cung cấp lý do để loại bỏ rủi ro an ninh hoặc từ chối sự tham gia của họ.
Tính hữu dụng - có vẻ mạnh hơn bất kỳ giá trị khoa học nào - đã giải thích lý do tại sao máy phát hiện nói dối trở thành công cụ tiêu chuẩn của hệ thống an ninh quốc gia Mỹ.
Câu chuyện của phi công Gary Powers: Plot twist liên tục!
Từ năm 1956 đến năm 1960 đã có 24 chuyến bay U-2 bay trên không phận Liên Xô và gặt hái được nhiều thông tin tình báo chiến lược vô giá về khả năng quân sự của Liên Xô.
Nhưng đến ngày 1/5/1960, thảm họa xảy ra khi chiếc máy bay do phi công Powers lái bị bắn rơi trên bầu trời Sverdlovsk (ngày nay là Yekaterinburg). Chính quyền Hoa Kỳ đã kể câu chuyện về một quả bóng bay thời tiết lạc đường, và chuyện này diễn ra đúng lúc lãnh tụ Nikita Khrushchev đang trình bày với thế giới về tàn tích chiếc máy bay bị bắn rơi, rồi sau đó quyết định số phận của viên phi công Mỹ.
Gary Powers đã sống sót kỳ diệu, bị đưa ra xét xử ở Moscow và nhận án tù 10 năm vì tội làm gián điệp.
Đến tháng 2/1962, Gary Powers được đại tá KGB Vilyam Fisher (bí danh Rudolf Ivanovich Abel) trao trả về Mỹ. Hồi hương, cựu phi công Gary Powers được xem như anh hùng (nhưng vẫn bị nghi ngờ ngầm ngầm ).
Nửa tin nửa ngờ với việc Liên Xô trao trả và sự nghi ngờ từ công luận Hoa Kỳ, ngay cả Cơ quan an ninh quốc gia Hoa Kỳ (NSA) cũng bán tín bán nghi về sự can thiệp của người Liên Xô đối với các chuyến bay U-2.
Máy phát hiện nói dối của CIA - Công nghệ "thần thánh" hay gì?
Các tín hiệu radar theo dõi cho thấy máy bay của phi công Gary Powers đã hạ xuống độ cao 19.812m. Độ cao này khiến máy bay dễ bị tấn công bởi tên lửa đất đối không. Nhưng phi công Powers khăng khăng phủ nhận việc mình hạ thấp độ cao.
CIA - lo sợ cho danh tiếng trước sức ép của công luận Mỹ - khăng khăng đòi sự vô tội cho Gary Powers. Giám đốc CIA John McCone thành lập ủy ban điều tra dưới quyền của thẩm phán liên bang E. Barrett Prettyman để chuẩn bị tuyên bố trước dư luận.
Tài liệu nhấn mạnh đến các xét nghiệm y tế, kiểm tra tổng quát, một buổi thẩm vấn được xác nhận bởi cựu phi công Gary Powers "xuất hiện với vẻ trung thực, thẳng thắn...". Dù chán ngán với sự rườm rà của tiến trình phát hiện nói dối, nhưng Gary Powers cũng háo hức muốn tự kiểm tra xem nó như thế nào. Thử nghiệm được thực hiện bởi một chuyên gia.
Tham gia buổi thẩm vấn, Gary Powers không thể hiện bất kỳ dấu hiệu sai lệch nào trong suốt quá trình kiểm tra.
Về lần thẩm vấn thử nghiệm này, phi công Gary Powers nhớ lại trong hồi ký: "Bực bội vì bị hoài nghi với phản ứng của tôi, tôi hết sức tức giận, hét to:
'Nếu mấy người không tin tôi, tôi sẵn sàng thử nghiệm với máy phát hiện nói dối!'... Lời vừa tuôn ra khỏi miệng, tôi bỗng chốc hối hận. Ai đủ dũng cảm để chứng minh mình vô tội trước máy phát hiện nói dối? Tôi như lọt xuống cái bẫy".
Kể từ khi được thành lập năm 1947, CIA đã sử dụng máy phát hiện nói dối như một phần của thủ tục bảo mật nhân sự để xác định độ trung thực của ứng viên và nhân viên, cũng như xác nhận thiện ý của các điệp viên.
Vào thời đỉnh cao của học thuyết McCarthy, CIA tăng cường dùng máy phát hiện nói dối để tăng độ chuẩn mực của lực lượng trước công luận. Với những người ủng hộ, máy phát hiện nói dối được hứa hẹn sẽ đảm bảo tính khách quan và công bằng cùng với việc răn đe các điệp viên và kẻ phản bội.
Một báo cáo của thanh tra CIA năm 1963 nhấn mạnh: "Chúng ta không thể đạt được chế độ an ninh toàn diện. Xã hội mở của chúng ta luôn kháng cự với những biện pháp của cảnh sát nhà nước".
Khi bị Quốc hội Hoa Kỳ thách thức, việc điều tra bằng máy phát hiện nói dối bắt đầu vào giữa những năm 1960, CIA đã bảo vệ công cụ này một cách tích cực.
Năm 1980, Ủy ban an ninh tình báo trung ương (CISC) nhấn mạnh: "Tiện ích của những buổi phỏng vấn bằng máy phát hiện nói dối là một phần của xử lý bảo mật và đã được chứng minh bằng những phương tiện thực nghiệm...
Những kết quả thực tế này cộng với hơn 30 năm kinh nghiệm đã khẳng định rằng việc dùng máy trong sàng lọc an ninh là độc đáo và không thể thiếu".
Tuy nhiên ngay trong nội bộ CIA cũng có ý kiến thừa nhận rằng việc tìm kiếm ứng viên và nhân viên dựa trên kết quả thử nghiệm của họ là tốt nhất. Thậm chí sau hàng thập kỷ sử dụng máy phát hiện nói dối, CIA vẫn chưa thể định nghĩa chính xác các thuật ngữ khó nắm bắt như "thông lệ" và "tình nguyện" trong chương trình phát hiện nói dối.
Năm 1974, một danh sách câu hỏi từ những người kiểm tra máy phát hiện nói dối đã đưa ra những câu hỏi khó nhằn, kiểu như: "Liệu cỗ máy này có giúp tôi vượt qua vòng thẩm vấn để được CIA nhận vào làm không?" hay "Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi không vượt qua?".
Cũng không rõ ràng về sự liên quan từ bằng chứng được tạo ra trong các kiểm tra bằng máy phát hiện nói dối. Năm 1973, CIA đã thừa nhận về sự khó nắm bắt các tình huống này. Cho mãi đến khi qua đời vì tai nạn trực thăng năm 1977, phi công Gary Powers đã được thừa nhận là người Mỹ trung thành qua các kiểm tra về độ trung thực.
Vấn đề an ninh quốc gia - Sự thật hay chiêu trò PR?
Một báo cáo được giải mật cho thấy chính quyền Kennedy nhận thấy nên đảm bảo cho công luận hiểu về tính trung thực của Gary Powers, và loan tin rằng ông Powers đã vượt qua bài kiểm tra bằng máy phát hiện nói dối - việc này nằm trong chiến lược truyền thông của Kennedy.
Kinh nghiệm của ông Gary Powers đã nhấn mạnh tới 3 đặc điểm của máy phát hiện nói dối được CIA sử dụng cho mục đích "an ninh quốc gia".
Trước hết là tuyên bố của những người ủng hộ rằng bài kiểm tra có thể là chứng nhân để bào chữa, miễn tội cho các công dân trung thành hóa ra có vẻ ít trung thực hơn;
Thứ hai, trong khi cỗ máy dựa trên sự tự nguyện thì trong thực tế dưới áp lực của bài kiểm tra cũng cho thấy người ta bị mất quyền tự do;
Thứ ba, các bài kiểm tra do máy thường là phương tiện để che đậy hơn là tiết lộ sự thật của các sự kiện.
Máy phát hiện nói dối cũng đặt ra những câu hỏi gây ám ảnh trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh, và những trải nghiệm đau thương trong bài kiểm tra đã vấp phải làn sóng phản đối dữ dội từ các dòng tư tưởng Mỹ.
Hai nhà báo Joseph và Stewart Alsop đã ví von cỗ máy phát hiện nói dối như việc ôm lấy một con bạch tuộc với các xúc tu điện tạo ra xung lực gây áp đảo.
Ngay cả cựu giám đốc phản gián của CIA - James Olson cũng gọi những kỳ thi có dùng máy phát hiện nói dối là "rất khủng khiếp nhưng cần thiết. Chúng mang đến cảm giác thô lỗ, khó chịu và đôi khi nhục nhã. Một quá trình rất tàn khốc".
Một câu hỏi đau đáu khác: Có bao giờ máy phát hiện nói dối bắt được điệp viên Liên Xô không?
Chắc chắn rằng không có điệp viên nào bị cỗ máy tóm được, và trường hợp tồi tệ nhất liên quan đến điệp viên Aldrich Ames, khi người này đã vượt qua 2 vòng kiểm tra bằng máy khi chuyển giao thông tin "tử thần" về các hoạt động của Hoa Kỳ ở Liên Xô cho những người xử lý thông tin.
Trong khi trường hợp của điệp viên Aldrich Ames gần như đã làm tổn hại đến danh tiếng của cỗ máy phát hiện nói dối, thì công nghệ này đột nhiên lại được chú ý sau sự kiện 11-9 và những cuộc chiến tranh tiếp theo ở Afghanistan và Iraq.
Một lần nữa cỗ máy phát hiện nói dối lại xuất hiện như một cách để chứng minh các giá trị khó nắm bắt như lòng trung thành khi thực hiện các nhiệm vụ đầy rủi ro trong sàng lọc nhân viên và công tác phản gián.
Nguồn: soha.vn