Khi 10 bạn sinh viên ra trường có tận 8 bạn xếp loại Giỏi, Xuất sắc: Cẩn thận "phản tác dụng" khi dùng điểm số để flex thương hiệu nhé!

6946f683c8151787c514.webp


Cứ 10 bạn sinh viên ra trường mà tận 8-9 bạn cầm tấm bằng Giỏi, Xuất sắc – nghe thì "xịn sò" nhưng thực tế đang khiến nhiều người đặt dấu hỏi lớn về chất lượng thực sự của chuẩn đầu ra đấy các bạn ơi

Theo TS Lê Đông Phương (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam) thì điểm số cao chót vót cuối khóa chưa chắc đã cho thấy các bạn sinh viên đã "lột xác" và tiến bộ thế nào sau 4 năm đại học đâu nhé. Đặc biệt là khi các công ty lớn giờ đang ngày càng "cẩn thận" với mấy cái danh hiệu trên bằng cấp, còn tự tổ chức test năng lực thực tế của ứng viên luôn rồi

Có trường 10 bạn tốt nghiệp thì gần 9 bạn đạt Giỏi, Xuất sắc luôn á!

Thống kê kết quả tốt nghiệp giai đoạn 2024-2026 tại nhiều trường đại học công lập top đầu cho thấy tỷ lệ sinh viên đạt loại Giỏi và Xuất sắc tăng vùn vụt, đặc biệt là ở khối ngành Kinh tế, Tài chính và Xã hội.

Tại ĐH Kinh tế Quốc dân (NEU), tỷ lệ này tăng liên tục từ 77,2% (năm 2024) lên 85,66% (năm 2025) và đạt 87,5% trong đợt xét tốt nghiệp tháng 8/2026. Đáng chú ý là riêng tỷ lệ tốt nghiệp loại Xuất sắc của trường năm 2026 chiếm tới 51,2%, loại Giỏi chiếm 36,3%, loại Khá chiếm 12,3% và nhóm Trung bình chỉ còn 0,3% thôi. Tức là cứ 10 bạn tốt nghiệp thì gần 9 bạn nhận bằng Giỏi, Xuất sắc luôn!

b7b42c263c22c240e313.jpg


Xu hướng tương tự cũng xảy ra ở các trường cùng khối ngành. Trong giai đoạn 2024-2026, trường ĐH Ngoại thương (FTU) duy trì tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại Giỏi và Xuất sắc ở mức 76-80% (riêng loại Xuất sắc chiếm từ 27-32% mỗi năm). Tại Học viện Tài chính, kết quả xét tốt nghiệp các năm gần đây cũng duy trì mức cao tương tự, đơn cử năm 2025 ghi nhận 72,72% tân cử nhân đạt loại Giỏi và Xuất sắc (với 25,63% Xuất sắc, 47,09% Giỏi) và chỉ có 0,16% xếp loại Trung bình. Trong khi đó, tại trường ĐH Luật Hà Nội, tỷ lệ này ổn định quanh mức 65-70%.

Ngược lại, dù có điểm chuẩn đầu vào cao tương đương, nhưng khối ngành Kỹ thuật - Công nghệ và Y Dược lại có tỷ lệ tốt nghiệp Giỏi, Xuất sắc thấp hơn đáng kể. Tại ĐH Bách khoa Hà Nội, đợt tốt nghiệp tháng 9/2026 chỉ có 31,12% sinh viên đạt loại Giỏi và Xuất sắc (giảm so với mức 34,6% của năm 2025), trong đó tỷ lệ Xuất sắc chỉ chiếm 1,52%. Tại trường ĐH Bách khoa (ĐHQG TP. HCM), tỷ lệ Giỏi và Xuất sắc năm 2024 ở mức 27,8% (Xuất sắc chiếm 0,77%).

Ở khối ngành Sức khỏe, trong hai năm 2024 và 2025, trường ĐH Y Hà Nội không có sinh viên nào tốt nghiệp loại Xuất sắc (0%), tỷ lệ loại Giỏi cũng giảm từ 8,79% xuống 4,3%. Tại trường ĐH Y Dược TP. HCM, tỷ lệ xuất sắc năm 2024 chỉ ở mức 0,5% và loại Giỏi khoảng 12%.

Đề cập đến hiện tượng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp Xuất sắc tăng cao tại Hội nghị Giáo dục đại học 2026 vừa qua, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn đã đặt câu hỏi về mức độ nỗ lực thực chất của người học cũng như chuẩn đầu ra của các nhà trường.

"Hiện nay, ở nhiều trường đại học, kể cả những trường lớn, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp Xuất sắc rất nhiều. Nếu học dễ đến mức đạt Xuất sắc nhiều như vậy, liệu sinh viên có phải nỗ lực hay không? Nếu chuẩn đầu ra của một trường top đầu không cao hơn các trường khác, trong khi sinh viên đạt loại Xuất sắc với tỉ lệ cao, thì có thể người học không cần phải nỗ lực quá nhiều", Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn nêu vấn đề.

Nhấn mạnh trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo (AI), "máy móc thì học sâu, vậy con người không thể chỉ học nông", Bộ trưởng yêu cầu các trường đại học tạm dừng chạy theo quy mô để tập trung nâng cao chất lượng, siết chặt khâu kiểm tra, đánh giá nhằm bảo đảm tính thách thức và công bằng. Đặc biệt, các cơ sở đào tạo cần khảo sát, đo lường được thời gian sinh viên dành cho việc tự học và nghiên cứu mỗi tuần, qua đó đánh giá lại mức độ phù hợp của chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy.

"Khoảng trống" trong thang đo và chuẩn đầu ra

Trao đổi với Sinh Viên Việt Nam về vấn đề này, TS Lê Đông Phương, chuyên gia nghiên cứu giáo dục đại học (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam) cho rằng, sự chênh lệch lớn giữa các nhóm ngành xuất phát từ cách thức quy định thang điểm và phương pháp đánh giá hiện hành.

Theo quy chế đào tạo tín chỉ, xếp loại tốt nghiệp dựa trên điểm trung bình chung tích lũy (GPA) tuyệt đối (trên thang điểm 4, từ 3,2 đến dưới 3,6 là Giỏi; từ 3,6 đến 4,0 là Xuất sắc). Tuy nhiên, điểm số từng học phần lại phụ thuộc nhiều vào cách ra đề và tiêu chí chấm điểm của từng giảng viên, đôi khi không tránh khỏi tâm lý "nương nhẹ" cho người học.

"Ở nhiều nền giáo dục tiên tiến, việc xếp loại học tập thường dựa theo phổ điểm tương đối của khóa học chứ không chỉ căn cứ vào một mốc điểm tuyệt đối. Chẳng hạn, tại một số đại học của Mỹ, chỉ nhóm 5% sinh viên có kết quả cao nhất trong một bài thi chuẩn hóa hoặc học phần mới nhận được điểm A, tương đương mức Xuất sắc. Khi chúng ta chưa áp dụng nguyên tắc khống chế theo tỷ lệ phân bổ này, việc một số ngành học có tới 80-90% sinh viên đạt loại Giỏi, Xuất sắc là điều dễ xảy ra", TS Lê Đông Phương phân tích.

Ở góc độ lý thuyết đo lường giáo dục, TS Lê Viết Khuyến - nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD-ĐT) cho biết, một công cụ kiểm tra, đánh giá có độ phân hóa chuẩn xác cần tạo ra phổ điểm có dạng "hình chuông úp" cân đối. Trong đó, nhóm đạt mức Trung bình và Khá chiếm đa số ở phần thân chuông, còn mức Giỏi và Xuất sắc chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ ở hai bên sườn.

"Khi phổ điểm của một cơ sở đào tạo nghiêng hẳn về phía Giỏi và Xuất sắc, điều đó phản ánh đề thi và công cụ đánh giá chưa làm tốt chức năng phân loại người học. Nhiều trường đang có sự nhầm lẫn giữa việc đánh giá đạt ngưỡng tối thiểu để công nhận tốt nghiệp với việc đánh giá phân hóa năng lực ở mức độ tinh hoa", TS Lê Viết Khuyến nhận định.

Bàn thêm về lập luận "đầu vào giỏi nên đầu ra giỏi", TS Lê Đông Phương cho rằng, cách giải thích này chưa làm rõ được "giá trị gia tăng" mà trường đại học mang lại: "Quá trình giáo dục đại học là quá trình tích lũy kiến thức và phát triển năng lực. Một con số điểm trung bình cuối khóa thuần túy chưa phản ánh được mỗi sinh viên đã tiến bộ và thay đổi như thế nào từ lúc nhập học cho đến khi ra trường. Nếu nhà trường đặt mục tiêu giảng dạy quá đơn giản so với tiềm năng của người học, việc đạt điểm tối đa là điều dễ hiểu".

Đồng tình với quan điểm của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về trách nhiệm của các trường top đầu, TS Lê Viết Khuyến nhấn mạnh: Chuẩn chương trình do Bộ GD-ĐT ban hành chỉ là mức cam kết tối thiểu toàn quốc. Theo mô hình phát triển năng lực dựa trên chuẩn đầu ra (Learning Outcomes), các trường đại học trọng điểm có đầy đủ quyền tự chủ để thiết lập chuẩn đầu ra cao hơn mặt bằng chung, nhằm khẳng định uy tín học thuật. Nếu trường top đầu vẫn giữ chuẩn đầu ra ở mức đại trà, sinh viên có nền tảng đầu vào tốt sẽ dễ dàng đạt điểm tối đa mà không cần nỗ lực học sâu.

Thị trường lao động "soi" kỹ hơn rồi nhé!

Theo các chuyên gia, khi tỷ lệ bằng Giỏi và Xuất sắc tăng quá cao nhưng thiếu sự tương thích với năng lực thực chất, chính người học và thương hiệu của nhà trường sẽ chịu thiệt thòi trước sự sàng lọc của thị trường lao động đấy.

TS Lê Đông Phương dẫn chứng, tại khu vực tư nhân, nhiều tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp lớn có vốn đầu tư nước ngoài (như Tập đoàn Samsung Việt Nam, với kỳ thi đánh giá năng lực toàn cầu tổ chức thường niên) khi tuyển dụng nhân sự trình độ đại học đều không căn cứ vào xếp loại bằng cấp. Thay vào đó, các doanh nghiệp này chủ động tổ chức những vòng sát hạch và thi tuyển độc lập cực kỳ khắt khe để đo lường chính xác tư duy logic, năng lực giải quyết vấn đề và kỹ năng chuyên môn của người lao động.

"Khi phần lớn sinh viên đều tốt nghiệp loại Xuất sắc thì danh hiệu đó không còn giữ được giá trị phân biệt trên thị trường lao động. Việc một số trường muốn khẳng định thương hiệu hàng đầu thông qua tỷ lệ điểm số cao, thực chất là một sai lầm. Thay vào đó, các trường đại học cần hướng tới tính hữu ích thực tế, tức là năng lực làm việc và sự thích ứng của sinh viên sau khi ra trường, giống như cách các trường khối Kỹ thuật hay Y Dược đang duy trì", TS Lê Đông Phương nhấn mạnh.

Để giải quyết bài toán này và thực hiện yêu cầu của Bộ GD-ĐT về việc thúc đẩy sinh viên "học nặng, học sâu", TS Lê Đông Phương cho rằng, không nên đo đếm thời gian tự học một cách cơ học, bởi thời gian tiếp thu của mỗi sinh viên là khác nhau. Thay vào đó, cần lượng hóa "sự tự học" ngay trong cấu trúc chương trình và đề thi.

"Đo đếm số giờ tự học một cách cơ học không phải là cách làm tối ưu. Thay vào đó, cần thiết kế chương trình sao cho phần kiến thức tự nghiên cứu chiếm tới 70-80% khối lượng môn học và đưa thẳng vào đề thi. Chỉ khi sinh viên thực sự tự đọc, tự đào sâu mới có thể vượt qua bài kiểm tra, lúc đó việc đo lường nỗ lực của người học mới đi vào thực chất", TS Lê Đông Phương đề xuất.

2b6db5ac969416c71616.jpg


704e8ef962b55ca81654.jpg


f92a7a0c25ac642b65a7.jpg


c813ee99b8a46119cd98.jpg


ff9792c9a13b3ce805f3.jpg


cab1d56b3f1b964f8370.jpg


Nguồn: svvn.tienphong.vn
 
Back
Top