Drama "vụ án sầu riêng": Ai cũng sầu, nhưng sầu vì lý do khác nhau

Ôi thôi, nghe tên "vụ án sầu riêng" thôi là thấy sầu rồi nha! Nhưng không phải sầu vì thất tình đâu mọi người ơi, đây là câu chuyện về một vị Thứ trưởng vướng vòng lao lý vì chỉ đạo cấp dưới... cấp khống giấy kiểm nghiệm, mã số vùng trồng, mua bán lung tung cả giấy phép mã số vùng trồng lẫn mã số cơ sở đóng gói. Cả một đoàn cán bộ giờ phải hầu tòa, nghĩ mà thấy nặng trĩu!

67c8d8f23f5b3d21d75f.jpg


Dù sớm hay muộn, họ sẽ phải đối mặt với pháp luật và cả lương tâm nữa nha! Mã số vùng trồng được ví như "hộ chiếu" cho nông sản Việt đi du lịch ra nước ngoài. Giờ chính người gác cổng lại mở cổng cho mấy ông gian lận vào, thế là không chỉ lô hàng bị ảnh hưởng, mà niềm tin của hàng triệu nông dân cũng tan tành luôn

Với tâm trạng nặng nề, chuyên gia kinh tế nông nghiệp TS. Trần Hữu Hiệp (nguyên Ủy viên Chuyên trách, Vụ trưởng Vụ Kinh tế Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ) đã chia sẻ với phóng viên về căn nguyên và cách giải quyết để "người muốn làm sai cũng không còn cửa làm sai" nữa.

abb51f9f7127a984cd46.jpg


Minh bạch chính là "vaccine" chống tham nhũng

PV: Thưa ông, giờ tâm trạng ông có khá hơn chưa ạ? Ai ngờ được quan chức cấp cao lại tổ chức và tiếp tay cho trò gian lận, làm cả ngành sầu riêng bị liên lụy...

TS. Trần Hữu Hiệp: Điều mình trăn trở nhất không phải là việc có sai phạm, mà là chuyện một bộ phận cán bộ lại trục lợi từ chính sách và quyền hạn được giao, ảnh hưởng trực tiếp đến đông đảo nông dân, nhà vườn và doanh nghiệp.

Mình vẫn còn bức xúc lắm! Nhưng cũng hy vọng đây sẽ là "cái tát tỉnh người" để toàn ngành cải tổ từ gốc, chứ không chỉ xử lý qua loa phần ngọn nữa.

PV: Nhiều người bảo quy trình cấp mã số vùng trồng hiện tại không có vấn đề gì to. Chỉ là một mắt xích cố tình làm sai thì cả ngành hàng bị ăn vạ. Theo ông, có fix được không?

TS. Trần Hữu Hiệp: Mình đồng ý một phần thôi. Bản thân cái mã số vùng trồng sầu riêng chỉ là công cụ quản lý theo tiêu chuẩn kỹ thuật, để "chứng nhận niềm tin" cho các nước nhập khẩu thôi mà.

Nhưng khi nó bị biến thành "giấy phép con" siêu quyền lực để "trái cây vua" được xuất ngoại, rồi cái giấy phép đó lại trở thành mảnh đất màu mỡ để trục lợi, thế là vấn đề nảy sinh rồi!

Vậy nên, điều đầu tiên phải làm là số hóa toàn bộ quy trình từ đăng ký, thẩm định, cấp mới đến thu hồi mã số. Mỗi hồ sơ cần có deadline xử lý rõ ràng, trạng thái cập nhật real-time để người dân và doanh nghiệp có thể theo dõi online. Khi mọi thứ đều để lại "dấu vết số", thì cơ hội làm liều sẽ bay màu!

Cùng với đó, cần xây dựng database quốc gia thống nhất về vùng trồng, kết nối giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường, địa phương, cơ quan kiểm dịch và hải quan.

Công khai danh sách mã số, diện tích, tình trạng hiệu lực sẽ giúp hiệp hội và xã hội cùng giám sát. Minh bạch chính là "vaccine" hiệu quả nhất chống tham nhũng! AI và Big Data cũng cần được ứng dụng để cảnh báo các trường hợp bất thường, ví dụ như sản lượng xuất khẩu vượt xa năng lực thực tế.

Cuối cùng, cần hoàn thiện cơ chế phân cấp đi kèm trách nhiệm giải trình. Địa phương nắm rõ tình hình vùng trồng nhưng phân cấp phải đi đôi với hậu kiểm nghiêm ngặt. Nâng cao vai trò của hiệp hội ngành hàng và văn hóa tuân thủ của doanh nghiệp cũng là "hàng rào mềm" cực kỳ quan trọng...

634d41664c6fde1de616.jpg


Để hiệp hội thực sự là "tai mắt" của thị trường

PV: Thực ra những nghi ngại về khuất tất trong chuyện cấp mã số vùng trồng sầu riêng đã xuất hiện từ năm 2022 rồi. Vậy tại sao vụ việc không được xử lý và ngăn chặn sớm hơn?

TS. Trần Hữu Hiệp: Ngay từ năm 2022-2023, khi xuất khẩu sầu riêng tăng trưởng "nóng bỏng tay", dư luận đã phản ánh tình trạng cho thuê, mượn, mua bán mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói – nơi có sản lượng thì thiếu mã, nơi có mã thì thiếu hàng. Nhưng "lag" quá lâu trong việc phát hiện và xử lý khiến tình hình trở nên nghiêm trọng hơn.

Có ba lý do chính dẫn đến tình trạng này. Một là, cơ chế hậu kiểm còn yếu, dữ liệu vùng trồng phân tán, chưa liên thông real-time, nên cảnh báo khó chuyển thành hành động thanh tra ngay lập tức.

Hai là, khi nghi vấn chỉ thẳng vào người trong bộ máy cấp phép, cơ chế tự kiểm tra nội bộ gần như vô dụng, vì "trọng tài" và "cầu thủ" là một

Ba là, với những thông tin ban đầu cho thấy tính chất, thủ đoạn, sự câu kết và gắn bó lợi ích bất chính của một bộ phận cán bộ có chức có quyền với người trục lợi rất chặt chẽ.

Vậy nên dù nguy cơ đã được phát hiện từ 2022 nhưng phải đến khi cơ quan điều tra vào cuộc mới thực sự được giải quyết.

PV: Thực trạng này đặt ra câu hỏi về quyền hạn và trách nhiệm của các hiệp hội. Xuất khẩu nông sản là ngành chủ lực mang lại giá trị gia tăng cao nhưng có vẻ như tiếng nói của các hiệp hội vẫn chưa đủ "trọng lượng". Theo ông, nên giải quyết thế nào?

TS. Trần Hữu Hiệp: Trong "vụ án sầu riêng" này, Hiệp hội đã cảnh báo đúng và cảnh báo sớm rồi. Điều họ thiếu là công cụ cảnh báo đủ "sức nặng". Đây là nghịch lý của mô hình hiệp hội ngành hàng ở Việt Nam nói chung.

Các hiệp hội được kỳ vọng là "tai mắt" của thị trường, nhưng lại không được tiếp cận dữ liệu quản lý nhà nước, không có cơ chế phản hồi bắt buộc từ cơ quan chức năng.

Theo mình, cần quy định rõ ràng về cơ chế "cảnh báo có phản hồi bắt buộc". Khi hiệp hội gửi văn bản cảnh báo dấu hiệu gian lận có căn cứ, cơ quan quản lý phải phản hồi bằng văn bản trong thời hạn nhất định, kèm theo hướng xử lý.

Đồng thời, cần cho hiệp hội quyền tiếp cận một phần dữ liệu vùng trồng, mã số đóng gói để tự đối chiếu sản lượng, thay vì chỉ nhận phản ánh một chiều từ hội viên. Có như vậy, tiếng nói hiệp hội mới thực sự chuyển từ "kiến nghị" sang "cảnh báo có sức mạnh thực thi".

a64bc2e32659d392afd6.jpg


Nông dân và doanh nghiệp cũng cần học hỏi từ vụ này!

PV: Quay lại chuyện mã số vùng trồng sầu riêng hiện tại và sau này sẽ là các loại nông sản xuất khẩu chính ngạch khác, chúng ta nên quản lý và giám sát tuân thủ tiêu chuẩn như thế nào? Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ nước nào?

TS. Trần Hữu Hiệp: Hướng đi đang được đặt ra là đúng rồi: đơn giản hóa thủ tục nhưng siết chặt hậu kiểm, số hóa toàn bộ hồ sơ, kết nối database truy xuất nguồn gốc toàn quốc.

Với vùng trồng phục vụ nội địa, rút ngắn thời gian giải quyết kèm hậu kiểm là hợp lý. Với vùng trồng xuất khẩu, cần duy trì tiền kiểm chặt chẽ vì đây là nơi hàng rào kỹ thuật của nước nhập khẩu đặt yêu cầu cao nhất.

Tin vui là Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói vừa ban hành đã nêu rõ các điểm này rồi!

Về kinh nghiệm quốc tế, Thái Lan là mô hình đáng học hỏi không phải vì họ có bộ máy hoàn hảo. Điểm hay là họ tổ chức tốt khâu kiểm tra chất lượng ngay tại vườn trước khi cho thương lái thu mua, quy định rõ timing nào một vùng trồng mới đạt chuẩn để được thu hoạch và giao dịch.

Cách làm này giảm tình trạng "chạy" theo sản lượng bất chấp chất lượng – cái mà trở thành mảnh đất màu mỡ cho gian lận mã số nảy sinh. Việt Nam cần học tập và áp dụng nguyên tắc gắn chất lượng thực tế với quyền được cấp mã, thay vì chỉ xét trên hồ sơ giấy tờ.

PV: Bản thân các nông hộ, doanh nghiệp sản xuất nông sản cũng nên rút kinh nghiệm gì từ vụ việc này?

TS. Trần Hữu Hiệp: Với nông hộ, bài học lớn nhất là đừng xem mã số vùng trồng như một loại "giấy phép" xin xong rồi bỏ xó, mà hãy coi nó như tài sản gắn liền với uy tín cá nhân.

Tài sản này cần được bảo vệ như bảo vệ thương hiệu của chính mình, tuyệt đối không cho thuê, cho mượn mã số dưới bất kỳ hình thức nào! Bởi vì khi mã số bị lạm dụng, người đầu tiên bị thu hồi quyền xuất khẩu chính là chủ sở hữu hợp pháp của mã số đó đấy nhé!

Với doanh nghiệp thu mua, chế biến, xuất khẩu, cần chủ động đối chiếu sản lượng thực tế với công suất vùng trồng liên kết, không chấp nhận nguồn hàng "trôi nổi" mượn danh mã số để hợp thức hóa xuất xứ.

Về lâu dài, nông hộ và doanh nghiệp nên liên kết theo chuỗi giá trị, gắn với hợp tác xã. Từ đó, giám sát chất lượng và truy xuất nguồn gốc trở thành quy trình minh bạch, nhiều bên cùng giám sát, thay vì phó thác cho một khâu cấp phép hành chính vốn đã cho thấy có thể bị lợi dụng.

Nguồn: soha.vn
 
Back
Top