Dòng họ Nguyễn Cựu Hào - Gia tộc "flex" khoa bảng đỉnh của chóp vùng Sơn Nam Hạ ✨

BomXanh514

New member
Nói đến gia tộc "đỉnh" về thi cử thời xưa, không thể bỏ qua dòng họ Nguyễn ở thôn Cựu Hào, xã Vĩnh Hào (Vụ Bản, Nam Định) - một gia tộc khoa bảng nổi đình nổi đám với truyền thống thi thư "xịn sò"

Dòng họ Nguyễn thôn Cựu Hào không phải dạng vừa đâu nha! Từ ông Tú, cụ Cử cho đến những vị đại khoa đều có tên trong sử sách cả. Người xưa có câu "Đông Cổ Am, Nam Hành Thiện" - nghĩa là ở xứ Đông vùng Hải Phòng có làng Cổ Am học giỏi, còn Sơn Nam Hạ vùng Nam Định thì có làng Hành Thiện nức danh. Nhưng mà nếu Hành Thiện vẻ vang với khoa bảng họ Đặng thì Nam Định còn một dòng họ không kém cạnh chút nào - chính là họ Nguyễn Cựu Hào đây!

Cựu Hào là ngôi làng cổ kính, nghe đâu có từ thời Vua Hùng dựng nước với tên gọi là Kẻ Sặt. Đến thời Lê trung hưng, Cựu Hào đã nổi như cồn khắp trấn Sơn Nam Hạ vì có quá nhiều người đỗ đạt cao. Trong đống gia tộc "xịn", phải kể đến dòng họ Nguyễn vì đủ cả tiến sĩ, cử nhân, tú tài lẫn ngự y luôn

Dòng họ Nguyễn thôn Cựu Hào bắt nguồn từ cụ Thủy tổ Pháp Chính từ vùng Kẻ Mơ - Hoàng Mai ngoại thành Thăng Long về đây khai cơ lập nghiệp. Trải qua thời gian dài phát triển, dòng họ Nguyễn đã sinh ra nhiều bậc hiền tài, quan thanh liêm và nhà khoa bảng có công lao to lớn.

Khởi nguồn từ Cử nhân Nguyễn Xưởng

Nguyễn Xưởng được coi là người "mở hàng" cho dòng họ khi thi đỗ Cử nhân vào năm 1786, sau đó làm quan qua các chức Tả mạc trấn Kinh Bắc, Huấn đạo phủ Thiệu Thiên (Thanh Hoá).

Cử nhân Nguyễn Xưởng có 6 con trai và 3 con gái. Một người con gái được nhà vua ban tên là Liên Hoa công chúa, trở thành tổ cô của dòng họ. Từ đây, dòng họ chia thành 6 chi ngành. Trong số các con trai của cụ, nổi bật nhất là Nguyễn Truyền - danh y "xịn xò" thời bấy giờ.

Từ danh y đến ngự y

Năm Canh Thân 1888, nhà vua bị bệnh nặng, nghe tin làng Nguyễn Cựu Hào có người làm thuốc giỏi nên cho chiếu xuống triệu vào cung. Cụ Định và 2 người con vào triều chữa khỏi bệnh cho nhà vua. Triều đình muốn giữ cả 3 người trong cung nhưng cụ từ chối, chỉ để con là Nguyễn Phối ở lại chữa bệnh cho hoàng tộc.

Năm 1888, vua Thành Thái phong cho cụ Nguyễn Phối là Điều Hộ, đến năm 1890 thì phong làm Ngự y luôn.

Một người con trai khác của Nguyễn Xưởng cũng "xịn" không kém là Nguyễn Hoàn. Nhờ được cha dạy bảo nên ông vừa giỏi toán pháp, vừa thông y lý. Ông Hoàn kết hôn với bà Phạm Thị Thuý - con gái Cử nhân Huấn đạo Phạm Đình Dự và sinh ra Nguyễn Thuyên, Nguyễn Thành, Nguyễn Ngọc Đường.

Ba anh em "máy đỗ" Tú tài

Nhờ nền giáo dục gia đình chất lượng từ nhỏ, ba anh em Nguyễn Thuyên đều đậu Tú tài nhiều khoa. Riêng Nguyễn Thành đậu Tú tài đến tận 7 lần (!), còn Nguyễn Ngọc Đường cũng đậu 4 lần. Đỉnh như này thì bảo sao không nổi tiếng

Nguyễn Thuyên đi thi Hương, ba khóa đều đậu Tú tài vào các năm Bính Tý (1816), Kỷ Mão (1819), Nhâm Ngọ (1822). Đến khoa thi Hương lần thứ tư năm Ất Dậu (1825) đời vua Minh Mạng, Nguyễn Thuyên đậu Cử nhân. Ông ra làm quan phụng sự ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và để lại nhiều giai thoại mà đến giờ người ta vẫn nhắc đến.

0d18d207d89b574e5d34.jpg


Sự nghiệp rực rỡ của Tế tửu Nguyễn Thuyên

Trong 25 năm làm quan, Nguyễn Thuyên đã có 17 năm dạy học - thầy giáo "real" đây rồi! Năm 1834, ông được thăng Đốc học tỉnh Thanh Hoá, rồi Đốc học tỉnh Hà Tĩnh. Vì có nhiều công lao trong giáo dục nên đến năm 1837, Nguyễn Thuyên được phong Phụng nghi đại phu.

936a45b97e8c3c9caf55.jpg


9c45a16072a6007442de.jpg


Khi vua Thiệu Trị lên ngôi, biết Nguyễn Thuyên là học quan có tài nên phong tặng Hàn lâm Thị giảng học sĩ, vời về kinh thành phong làm Giám sát ngự sử kiêm Tư nghiệp Quốc Tử Giám.

Ông vừa dạy học ở Quốc Tử Giám vừa trông coi việc học trong phủ hoàng tộc. Năm 1845, ông được kiêm chức Chưởng ấn kinh kỳ. Năm sau, Thiệu Trị thăng chức ông làm Tế tửu Quốc Tử Giám và đổi tên ông là Nguyễn Công Hợp.

Thầy giáo "huyền thoại" đào tạo nhiều nhân tài

Trải qua 17 năm dạy học, Nguyễn Thuyên đã đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước. Trong đó phải kể đến Thám hoa Phan Thúc Trực, Nguỵ Khắc Đàn, Đặng Văn Kiều. Các Tiến sĩ Bùi Thúc Kiên, Trần Huy Côn, Đặng Huy Trứ, Ngô Phùng, Đặng Văn Bá... toàn "tên tuổi" cả!

Vì có công lao lớn trong việc đào tạo nhân tài, vua Tự Đức mến mộ cho phép Nguyễn Thuyên mặc đại triều phục để học trò làm lễ Khánh thọ ông 60 tuổi. Vua còn ban tặng ông khánh vàng, tự tay đề hai bức đại tự "Kính Trai", "Nghĩa Phương" (Kính trọng thay sự thanh bạch giản dị, đẹp đẽ thay sự nhân nghĩa).

Năm Tự Đức thứ 3 (1850) nhà vua cử ông ra Hà Nội làm giám khảo cuộc thi Hương ở trường Hà. Sau chuyến đi Hà Nội về, sức khỏe của ông giảm sút. Ông xin cáo quan về trí sĩ. Mãi hai năm sau (1852), biết không giữ được, Tự Đức phải đồng ý ban cho nguyên hàm về trí sĩ tại quê nhà.

Ngày 13 tháng 7 năm Quý Sửu (1853), ông qua đời ở tuổi 64. Vua Tự Đức thương tiếc, ban sắc chỉ phong Nguyễn Thuyên làm "Trung thuận đại phu Quốc Tử Giám Tế tửu tán trị Doãn Nguyễn Hầu". Hàng trăm học trò đang làm quan trong triều, ngoài hạt đều về dự lễ tang, đưa tiễn thầy - cảm động quá đi!

Để ghi nhớ công ơn thầy, học trò đã xây dựng từ đường, sớm hôm thờ phụng một bậc sư biểu. Năm 1858, từ đường xây dựng xong, Bảng nhãn Tế tửu Quốc Tử Giám Vũ Duy Thanh (người làng Vân Bồng, huyện Yên Khánh, Ninh Bình), cũng là người kế nhiệm Nguyễn Thuyên ra dự lễ khánh thành và viết văn bia cho từ đường.

Văn bia ca ngợi ông là một bậc đại sĩ phu không màng danh lợi, chỉ chuyên tâm dạy học, suốt đời sống thanh liêm, giản dị, vui với đạo học, dạy học trò thành đạt.

Bài văn có đoạn viết: "Do có bệnh mà xin nghỉ hưu, mặc dù tuổi nghỉ hưu chưa đến, vẫn không tiếc. Tiên sinh thường vui vẻ chuyện trò, không hề bận tâm đến việc đua tranh với đời chỉ chú trọng đến việc dạy học, hết sức chăm lo việc đó, còn lại coi nhẹ hết.

Điều tiên sinh ham muốn nhất, chính là bỏ được tính buồn bã (u sầu), cái mà người đời thường cho là lạnh nhạt. Tiên sinh suốt đời vui vẻ, không nói nhiều về đạo quân tử, mà thường ngày sống kiệm cần thanh bạch cho đến chết, nhà không chút của cải, chết nhẹ nhàng như Phiên Hầu Hi Tăng".

Theo ghi chép của dòng họ Nguyễn tộc lục chi ở thôn Cựu Hào, Tế tửu Nguyễn Thuyên có 4 người con đều đỗ Tú tài là: Nguyễn Khâm, Tú Đoán, Tú Tương và Ấm Thừa. Ông cũng có người cháu gọi bằng ông họ là Nguyễn Văn Tính đỗ Tiến sĩ khoa thi Tân Sửu (1901) năm Thành Thái thứ 13.

b6ca962554d937fc21bd.jpg


"Ông Tú Trạng" Nguyễn Văn Tính - Vinh quang tột đỉnh

Nguyễn Văn Tính sinh năm 1860, được đánh giá là người thông minh, ham học nên đã đỗ loại ưu kỳ thi Hương năm 1890, được đặc cách qua kỳ thi Hội vào dự thi Đình luôn. Đến năm 1901, ông đỗ trong kỳ thi Đình cùng 8 vị Tiến sĩ và Phó bảng, trong đó có nhà yêu nước Phan Chu Trinh, cụ Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thi đỗ điểm cao nên người kinh thành Huế gọi Nguyễn Văn Tính là "ông Tú Trạng" và được vua Nguyễn tặng biển gỗ sơn son thếp vàng có 4 chữ "Ấn tứ vinh quy", tặng cờ vải đỏ chữ vàng ghi "Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân". Sau đó, Tiến sĩ Nguyễn Văn Tính được bổ nhiệm làm Hàn lâm viện Biên tu tại huyện Nam Sách (Hải Dương), rồi đến làm quan Đốc học tại Hải Phòng.

Từ bỏ quan lộc, về quê phụng sự dân ❤️

Năm 1907, Tiến sĩ Nguyễn Văn Tính đã xin cáo quan về quê tham gia hoạt động phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, mở các lớp dạy học và chữa bệnh miễn phí cho dân, giúp người địa phương tăng gia sản xuất, đào mương dẫn thủy nhập điền, mở mang đường sá, chia lại ruộng đất cho công bằng. Đúng chuẩn "vì dân phục vụ" trước thời đại!

Nguyễn Văn Tính nổi tiếng là nhà khoa bảng có kiến thức sâu rộng, am hiểu lịch sử, văn hay chữ tốt nên thường được mời viết bi ký, câu đối, đại tự cho các đền miếu. Ông cũng là tác giả của các tác phẩm: Thiên Bản lục kỳ ký, Thiên Bản diên cách chí, Minh kính chí...

Tại di tích kiến trúc nghệ thuật Phủ Dầy và một số ngôi đền, miếu, phủ trên địa bàn huyện Vụ Bản ngày nay và các làng xã lân cận còn lưu giữ khá nhiều văn bia, câu đối, bút tích do "ông Tú Trạng" đề soạn.

Con cháu toàn "người của năm"

Tiến sĩ Nguyễn Văn Tính sinh được 6 con trai và 2 con gái. Trong đó có Giáo sư, Viện sĩ, thầy thuốc nhân dân Nguyễn Sỹ Lâm - người có công danh sự nghiệp hiển vinh nhất. Ông từng là đại biểu Quốc hội 3 khóa liên tục (khóa IV, V, VI); Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Sĩ Nguyên; Giáo sư Nguyễn Sỹ Tế; Giáo sư Nguyễn Sỹ Phong; Thiếu tướng Nguyễn Sỹ Động. Toàn "siêu sao" hết trơn!

Nhà khoa bảng Nguyễn Văn Tính mất vào tháng 4 năm Canh Ngọ (1930), hưởng thọ 70 tuổi. Từ đường Tiến sĩ Nguyễn Văn Tính được xây dựng vào năm Tân Mùi (1931) theo kiến trúc chữ "nhất", gồm 3 gian dựng bằng gỗ lim, nền lát gạch đỏ, mái lợp ngói nam, sau lại được trùng tu theo kiến trúc chữ "đinh".

Di sản văn hóa quý giá

Hiện nay, tại từ đường còn lưu giữ được nhiều di vật, cổ vật có giá trị lịch sử, văn hóa như sắc phong, bằng cấp, cờ, biển, câu đối, đại tự... có niên đại thời Nguyễn.

Đây là nguồn tư liệu vô cùng quý giá vừa để khẳng định công lao, sự nghiệp của các nhà khoa bảng họ Nguyễn Cựu Hào, vừa góp phần vào việc nghiên cứu, tìm hiểu về chế độ khoa bảng nho học trong lịch sử khoa cử Việt Nam.

Nguồn: soha.vn
 
Back
Top