BanhSusu7489
New member
Quân đội nhà Nguyễn ngày xưa có đủ các binh chủng: bộ binh, pháo binh, thủy binh và tượng binh. Trong đó, tượng binh chính là lực lượng "flex" nhất, với gần 500 con voi chiến dưới triều vua Minh Mạng luôn nha!
Vậy tượng binh thời đó được setup như thế nào?
Theo sử sách triều Nguyễn, tượng binh đã có từ thời các chúa Nguyễn rồi. Từ khi vua Gia Long lên ngôi thì lực lượng này mới được tổ chức bài bản. Đến đời vua Minh Mạng năm 1829, nhà vua cho định lại hẳn cơ cấu tổ chức cũng như đặt lại tên cho các đơn vị của binh chủng xịn xò này.
Biên chế như nào?
Dưới thời vua Gia Long và Minh Mạng (đến năm 1831), đất nước chia hai cơ cấu hành chính: Bắc Thành trông coi các tỉnh miền Bắc, và Gia Định Thành quản các tỉnh miền Nam. Mỗi thành do một viên Tổng trấn cầm đầu.
Đại Nam thực lục có ghi lại lời tâu của Bộ Binh lên vua Minh Mạng năm 1829:
"Nhà nước có tượng binh dùng về việc quân, thật là đắc lực, mà từ trước đến nay ở Kinh và các thành trấn đạo, có nơi số binh nhiều, số voi ít, có nơi số binh ít, số voi nhiều.
Lại có nơi binh và voi đều chưa từng có. Nếu không tuỳ nghi định lại, cứ nhân tuần như thế, thì sự chăn nuôi ngày thường đã lo khó đủ, mà khi có việc sai khiến lại sợ có chỗ làm không nổi. Xin lượng theo địa phương lớn nhỏ và công việc nhiều ít để định số binh số tượng khác nhau cho có định ngạch".
Các đề xuất này đều được vua Minh Mạng "pass" hết nha!
Theo Bộ Binh đề xuất, ở Kinh thành đặt 3 vệ tượng binh, mỗi vệ 10 đội, biền binh 1.500 người, voi 150 con.
Tượng binh ở Bắc Thành là 3 cơ, mỗi cơ 5 đội, biền binh 750 người, voi 110 con.
Với Thành Gia Định có 10 đội, biền binh 500 người, voi 75 con.
Số lượng ở các trấn lần lượt: Quảng Nam 5 đội, biền binh 250 người, voi 35 con. Nghệ An 3 đội, biền binh 150 người, voi 21 con. Quảng Bình, Quảng Ngãi, Thanh Hoa đều 2 đội, biền binh 100 người, voi 15 con.
Quảng Trị, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận, Ninh Bình đều 1 đội, biền binh 50 người, voi 7 con.
Tính ra lực lượng tượng binh thời vua Minh Mạng nếu đủ cơ số thì có tối đa 471 con voi chiến luôn á!
Bộ Binh cũng ghi rõ, các thành trấn sẽ tùy số quân đang thừa thiếu mà điều chỉnh. Thiếu binh thì tuyển thêm, thiếu voi thì bổ sung.
Về vũ khí cho voi chiến, tài liệu nhà Nguyễn ghi: mỗi con voi có 1 lá cờ đỏ thêu, 1 cây cờ có mũi giáo sắt, cuộn dây thu kết bằng sắt; 30 cây lao phi mũi sắt, 20 cây lao phóng sắt, 1 câu liêm sắt, 2 quả chuông đồng.
Khác với mô tả về voi chiến nhà Tây Sơn, voi thời Nguyễn không thấy có trang bị súng hay đại bác đâu nhé!
Danh hiệu và chỉ huy
Theo Bộ Binh tấu năm 1829, danh hiệu các vệ, cơ tượng binh đều dùng tên Kinh, thành, trấn, đạo để gọi.
Tượng binh ở Kinh gọi là 3 vệ Kinh tượng nhất, nhị, tam.
Ở Quảng Trị gọi cơ Trị tượng; Quảng Bình gọi cơ Quảng tượng; Quảng Nam gọi cơ Nam tượng; Quảng Ngãi gọi cơ Ngãi tượng; Bình Định gọi cơ Bình tượng; Phú Yên gọi cơ Phú tượng; Bình Hòa gọi cơ Hòa tượng; Bình Thuận gọi cơ Thuận tượng.
Nghệ An gọi cơ An tượng; Thanh Hoa gọi cơ Hoa tượng; Ninh Bình gọi cơ Ninh tượng; Gia Định gọi cơ Định tượng; Bắc Thành gọi 3 cơ Bắc tiền, Bắc tả và Bắc hữu.
Năm 1847, vua Minh Mạng ban hành quy định: Từ trước tới nay, cờ voi, bành voi ở các tỉnh, hoặc do Kinh cấp, hoặc tỉnh tự làm, màu cờ xanh, vàng, đỏ, biếc chưa thống nhất.
Từ nay, về màu sắc tơ lụa đỏ, xanh, đen, biếc tùy ý, các kiểu tô vẽ ở bành như kỳ lân, long mã, rồng mây, sóng gợn cũng tùy ý, không bắt buộc. Chỉ có một điều, bành voi không được vẽ rồng vàng để phân biệt với bành voi ở Kinh.
Cờ voi ở các tỉnh trước đây đính 1, 2, 3, 4 chữ không thống nhất; giờ phải mỗi mặt cờ đính 2 chữ: tỉnh Quảng Nam là đội Nam tượng thì cờ đính "Nam tượng"; tỉnh Gia Định là đội Gia tượng thì cờ đính "Gia tượng"; tỉnh Bình Định là đội Bình tượng thì cờ đính "Bình tượng".
Về lãnh đạo binh chủng tượng binh
Năm 1829, vua Minh Mạng bổ nhiệm Phạm Văn Điển làm Thống chế Kinh tượng, Lê Phục Tấn làm Phó vệ uý vệ Kinh tượng nhất, chuyên quản các tượng cơ ở Quảng Trị, Quảng Nam và Quảng Bình.
Hồ Văn Đa làm Vệ uý vệ Kinh Tượng nhị, quản các tượng cơ Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận và Gia Định. Nguyễn Văn Thị làm Vệ uý Kinh tượng tam, quản các tượng cơ ở Nghệ An, Thanh Hoa, Ninh Bình và Bắc Thành.
Thống chế Phạm Văn Điển xuất thân là lính tượng binh từ thời chúa Nguyễn. Ông theo chúa Nguyễn Ánh từ năm 1793, được phong Phó Cai cơ. Sau khi vua Gia Long lên ngôi, Phạm Văn Điển thăng Phó Trưởng chi cai cơ, rồi lên Thị tượng Vệ úy.
Năm Minh Mạng thứ 5 (1824), ông thăng Thự Tượng quân Thống chế. Đặc biệt, ông còn giỏi cả chỉ huy thủy quân, từng dẫn thủy quân dẹp "giặc biển" ở Thanh Hóa.
Phạm Văn Điển sau này thăng Đô thống Tả quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, hàm chánh nhất phẩm ngạch võ quan (chức Thống chế là hàm chánh nhị phẩm), tước Tín Vũ bá.
Ông lập công khi dẹp được cuộc nổi dậy của Nông Văn Vân ở Tuyên Quang, Cao Bằng năm 1834, được khắc tên trên bia Võ công đặt trước sân Võ miếu luôn đó!
Dù là quan võ, ông từng làm Tổng đốc Thanh Hóa. Cuối đời ông vào miền Nam cùng Nguyễn Công Trứ dẹp loạn và đánh đuổi quân Xiêm La, rồi mất ở quân thứ Thất Sơn năm 1842, thọ 73 tuổi.
Triều Nguyễn còn có vị chỉ huy Tượng binh nổi tiếng khác là Đô thống chế Lê Văn Hoan, vốn chỉ huy tượng binh thời Tây Sơn, được vua Gia Long triệu về cai quản tượng binh. Ông phục vụ triều Nguyễn đến năm Minh Mạng thứ 9 (1828) qua đời ở tuổi 70.
Nguồn: soha.vn