Ung thư lưỡi là loại ung thư phổ biến nhất trong các bệnh ung thư vùng khoang miệng, thường gặp ở các anh trên 50 tuổi. Theo số liệu từ Bệnh viện K cho biết, hai năm gần đây số ca mắc ung thư lưỡi tăng gấp đôi luôn các bạn ơi
Mặc dù hầu hết các trường hợp không tìm được nguyên nhân chính xác, nhưng có một số yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh như: hút thuốc lá, rượu bia, nhai trầu, vệ sinh răng miệng kém, nhiễm virus HPV, thiếu vitamin A, E, D và khoáng chất.
Những "thủ phạm" gây bệnh cần cảnh giác
Hút thuốc lá: Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng những người thường xuyên hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh ung thư miệng, lưỡi cao hơn nhiều so với người không hút. Đây là lời cảnh tỉnh rồi đó các bạn!
Rượu bia: Một nghiên cứu cho thấy khoảng 70-80% bệnh nhân ung thư miệng hoặc ung thư lưỡi đều là những người nghiện rượu bia. Rượu có khả năng kích thích các gene gây ung thư và gây ra nhiều bệnh nguy hiểm khác. Nếu hút thuốc mà thấy xuất hiện những đốm trắng trên lưỡi thì cần đi khám gấp nhé!
Tiếp xúc với tia xạ: Những người tiếp xúc với các tia bức xạ cường độ cao cũng có nguy cơ phát triển bệnh ung thư miệng và lưỡi cao hơn người bình thường.
Ngoài ra, tiền sử gia đình, gene di truyền, viêm quanh răng, vệ sinh răng miệng kém cũng là những nguyên nhân tiềm ẩn đáng lưu ý.
Ung thư lưỡi biểu hiện thế nào?
Giai đoạn đầu: Các triệu chứng thường rất mờ nhạt và dễ bị bỏ qua. Bạn có cảm giác như có dị vật hoặc xương cá cắm vào lưỡi, rất khó chịu nhưng qua đi nhanh. Ở giai đoạn này lưỡi có một điểm nổi phồng lên với sự thay đổi màu sắc, niêm mạc trắng, xơ hóa hoặc vết loét nhỏ. Tổn thương chắc, rắn, không mềm mại như bình thường. Một số trường hợp có hạch cổ ngay từ đầu.
Giai đoạn toàn phát: Người bệnh đau nhiều khi ăn uống, đau kéo dài gây khó khăn khi nói. Có thể sốt do nhiễm khuẩn, không ăn được nên cơ thể suy sụp rất nhanh
Các triệu chứng bao gồm:
• Đau tăng lên khi nói, nhai, nhất là khi ăn đồ cay nóng, đôi khi đau lan lên tai
• Tăng tiết nước bọt
• Chảy máu: nhổ ra nước bọt lẫn máu
• Hơi thở hôi thối do tổn thương hoại tử
• Một số trường hợp gây khít hàm, cố định lưỡi khiến khó nói và nuốt
Có ổ loét ở lưỡi, trên ổ loét phủ giả mạc dễ chảy máu, loét phát triển nhanh, lan rộng làm lưỡi hạn chế vận động. Thương tổn thường sùi loét, đáy có mủ máu, bờ nham nhở, chảy máu khi va chạm.
Đôi khi không có dấu hiệu loét mà là một nhân lớn gắn chặt xuống lớp dưới, nhô lên dưới lớp niêm mạc căng nhẵn, có màu tím nhạt, lớp niêm mạc có những lỗ nhỏ mà khi ấn vào sẽ rỉ ra chất trắng - sản phẩm của hoại tử ở phía dưới.
Giai đoạn tiến triển: Thể loét chiếm ưu thế, loét sâu lan rộng xuống bề mặt hoặc vào mặt dưới của lưỡi xuống sàn miệng gây đau đớn dữ dội, bội nhiễm, có mùi hôi, rất dễ chảy máu thậm chí có thể gây chảy máu nhiều ảnh hưởng đến tính mạng.
Đa số các tổn thương u gặp ở bờ tự do của lưỡi, đôi khi gặp ở mặt dưới lưỡi, mặt trên lưỡi hoặc ở đầu lưỡi.
Chẩn đoán và điều trị như thế nào?
Chẩn đoán dựa vào các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng, quan trọng nhất là xét nghiệm mô bệnh học: sinh thiết u để chẩn đoán xác định.
Các xét nghiệm khác để chẩn đoán giai đoạn bệnh như: xét nghiệm tế bào học tại hạch cổ, chụp X-quang xương hàm dưới, X-quang tim phổi, chụp cắt lớp vi tính lồng ngực, cộng hưởng từ sọ não, xạ hình xương, PET/CT... để đánh giá tình trạng di căn.
Phương pháp điều trị:
90% bệnh nhân ung thư lưỡi được phát hiện khi các tổn thương đã lan rộng, phải phẫu thuật triệt căn (cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ lưỡi, tùy vị trí và kích thước khối u). Ở giai đoạn sớm có thể điều trị triệt căn bằng phẫu thuật, ở giai đoạn muộn hơn cần phải kết hợp phẫu thuật, xạ trị và hóa trị nhằm kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.
Trong một số trường hợp giai đoạn muộn khi có chảy máu nhiều tại u phải phẫu thuật thắt động mạch cảnh ngoài để cầm máu.
Xạ trị: Có thể xạ trị đơn thuần trong các trường hợp ung thư lưỡi giai đoạn muộn không còn chỉ định phẫu thuật hoặc xạ trị triệt căn trong trường hợp giai đoạn sớm. Xạ trị cũng có thể dùng sau phẫu thuật nhằm diệt các tế bào ung thư còn sót lại. Ngoài ra có thể xạ trị tại chỗ bằng cách dùng nguồn phóng xạ đặt hoặc cắm vào tổn thương ung thư tại lưỡi.
Hóa chất: Có thể dùng đường toàn thân hoặc đường động mạch lưỡi, đơn hóa chất hoặc phối hợp đa hóa chất. Hóa chất có thể dùng trước, sau phẫu thuật - xạ trị hoặc hóa chất điều trị triệu chứng. Điều trị hóa chất trước phẫu thuật hoặc xạ trị nhằm giảm thể tích khối u, ngăn chặn sự phát triển của khối u, khu trú tổn thương để phẫu thuật và xạ trị thuận lợi hơn.
Lời khuyên từ bác sĩ
Phần lớn các bệnh nhân ung thư lưỡi không có cảm giác đau ở giai đoạn đầu nên thường chủ quan và không đi khám. Nhưng khi tổn thương lớn lên mới xuất hiện nhiều triệu chứng như: xuất hiện hạch ở cổ, vết loét lâu ngày, màu trắng hoặc đỏ ở hai bên lưỡi (có thể hơi đau hoặc không đau), khó khăn khi nói, nhai, chảy máu lưỡi, đau tai... ngứa hoặc đau rát lưỡi khi uống rượu hoặc ăn các loại thức ăn có tính axit. Những biểu hiện này có thể tái đi tái lại nhiều lần - phải nghĩ đến ung thư lưỡi ngay!
Điều cần lưu ý là ở giai đoạn đầu rất nhiều bạn đã nhầm tổn thương ung thư lưỡi với nhiệt miệng. Vì vậy, bác sĩ khuyến cáo nếu bị loét lưỡi sau 3 tuần dùng kháng sinh không khỏi cần đi khám chuyên khoa ngay nhé!
Nguồn: soha.vn