XuLovely5155
New member
Dạo này thời tiết nhiều nơi lạnh sâu kéo dài, bệnh viêm phổi đang "trỗi dậy" khá mạnh nè các bạn ơi!
Viêm phổi là gì mà nguy hiểm vậy?
Viêm phổi là bệnh tấn công phổi, chủ yếu do vi khuẩn và virút gây ra. Có 2 kiểu viêm phổi các bạn cần phải biết: viêm phổi thùy và viêm phổi đốm. Hiểu rõ 2 dạng này để còn phát hiện và điều trị kịp thời, đồng thời phòng bệnh cho hiệu quả nha!
Hai thể bệnh viêm phổi khác nhau thế nào?
Viêm phổi thùy: Thường do vi khuẩn phế cầu (Streptococcus pneumoniae) gây ra. Tổn thương thường tập trung ở một phần hoặc cả thùy phổi, có thể một bên hoặc cả hai lá phổi luôn.
Bệnh trải qua 4 giai đoạn:
• Giai đoạn sung huyết: mạch máu giãn ra, hồng cầu và bạch cầu thoát vào phế nang
• Giai đoạn gan hóa đỏ (sau 1-2 ngày): thùy phổi viêm có màu đỏ và chắc như gan
• Giai đoạn gan hóa xám: bạch cầu thay thế hồng cầu, phổi chuyển màu xám
• Giai đoạn gan hóa vàng: là giai đoạn lui bệnh, phổi trở lại màu nâu hơi vàng
Viêm phổi đốm: Còn gọi là viêm phế quản phổi, đặc điểm là viêm từng ổ, vùng phổi lành xen kẽ vùng phổi bị tổn thương. Các ổ tổn thương xuất hiện không đồng thời, tiểu phế quản cũng bị viêm theo.
Nguyên nhân gây bệnh khá đa dạng. Đặc trưng của loại này là có tiết dịch phế nang, các mô như tiểu phế quản tận cùng, ống và túi phế nang đều bị viêm nhiễm nặng.
Triệu chứng và cách chẩn đoán
Viêm phổi thùy có những dấu hiệu gì?
• Đau ngực đột ngột, có thể đau nhẹ hoặc đau dữ dội ở vùng dưới vú, bên phổi bị tổn thương; đau lan xuống vùng gan, ruột thừa; đau tăng khi vận động, ho, thở mạnh
• Khó thở vừa phải, thở trên 25 lần/phút, không dám thở sâu vì đau, môi có thể tím tái nhẹ
• Ho khan lúc đầu rồi có đờm; đờm nhầy quánh dính, khó khạc; có khi đờm màu hồng, màu gỉ sắt
• Rét run đồng thời với đau ngực (không phải lúc nào cũng có)
• Sốt cao, có thể trên 40°C, mạch nhanh; đôi khi lú lẫn, mau quên, chán ăn
• Nước tiểu ít và màu sẫm
Khi khám sẽ thấy: lở mép miệng, gò má đỏ, giảm giãn nở lồng ngực bên bị thương tổn. Khi sờ có dấu hiệu rung thanh âm tăng. Khi nghe phát hiện 3 triệu chứng cơ bản: mất tiếng rì rào phế nang, có ran nổ, tiếng thổi ống.
Trên phim X-quang thấy hình mờ đậm không đều, rõ giới hạn một thùy phổi, thường thấy hình tam giác đỉnh hướng vào rốn phổi và đáy hướng ra ngoài.
Viêm phổi đốm thì sao?
Thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi nhưng người lớn, người già yếu cũng có thể bị, đặc biệt sau bệnh sởi, cúm, ho gà, hôn mê hoặc bệnh mãn tính.
Nguyên nhân do phế cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn, trực khuẩn gram âm, virút cúm, Adenovirus...
Triệu chứng bao gồm:
• Bệnh xảy ra từ từ hoặc đột ngột, sốt khoảng 39-40°C (trẻ sơ sinh và người già có thể không sốt rõ)
• Ho có đờm, nhiều hoặc ít
• Khó thở nông và nhanh, cánh mũi phập phồng; trẻ sinh non có thể ngừng thở ngắn, rối loạn nhịp thở
• Tím tái nhẹ và kín đáo; trẻ em tím khi khóc, bú; nặng thì tím môi, đầu chi và mặt
• Nhịp tim nhanh, mạch nhanh và nhỏ, có thể trụy tim mạch hoặc suy tim
• Trẻ em bỏ bú, nôn mửa, tiêu chảy
• Người lớn có hội chứng đau bụng cấp, vàng da, vàng mắt
• Triệu chứng thần kinh: co giật, li bì, hôn mê...
Trên phim X-quang thấy hai phế trường có những đám mờ không đều. Xét nghiệm thấy bạch cầu tăng 10.000-15.000/mm³, bạch cầu đa nhân trung tính tăng 80-90%, tốc độ lắng máu cao.
Xét nghiệm vi khuẩn trong đờm rất cần để chọn kháng sinh phù hợp. Cấy máu nên làm lúc bệnh nhân sốt. Chọc dò màng phổi khi có dấu hiệu tràn dịch. Soi phế quản khi viêm phổi mạn tính để loại trừ ung thư phổi.
Cách điều trị viêm phổi do vi khuẩn
Điều trị viêm phổi do vi khuẩn có khi đơn giản nhưng cũng có trường hợp phức tạp vì một số vi khuẩn đề kháng với kháng sinh, nhất là bệnh nhân nặng.
Viêm phổi cấp tính thể nhẹ:
Khi chưa có kháng sinh đồ thường dùng các kháng sinh cổ điển như penicilline G, ampicilline, lincomycine, cephalosporine, sulfamide... điều trị khoảng 2 tuần cho đến khi tình hình khả quan và hình ảnh bệnh lý trên phim X-quang biến mất.
Nếu không khả quan hơn và đã có kháng sinh đồ thì điều trị theo kết quả. Cần chọn một hoặc nhiều kháng sinh còn nhạy cảm với vi khuẩn.
Ngoài ra nên phối hợp thuốc long đờm, thuốc giảm ho khi mất ngủ, ho khan kéo dài. Bệnh nhân phải nằm nghỉ ngơi, tránh nhiễm lạnh.
Viêm phổi nặng:
Thể bệnh này thường xảy ra ở người suy nhược, sức đề kháng kém hoặc vi khuẩn độc lực mạnh nên có nhiều biến chứng và cần chăm sóc đặc biệt.
Nên dùng kháng sinh liều cao và phối hợp các loại có hiệu lực, thở oxy ngắt quãng, không dùng thuốc an thần ức chế hô hấp, bổ sung nước và chất điện giải, nước hoa quả; khi mất nước cần truyền dịch.
Theo dõi tim mạch, chống loét do nằm lâu; xoa bóp, gõ, rung lồng ngực để gây ho, khạc đờm; nếu suy hô hấp phải điều trị tại khoa hồi sức.
Đối với người nghiện rượu, cần kháng sinh liều cao và phối hợp. Với trẻ sơ sinh, cần hút đờm dãi và dùng oxy. Nếu suy hô hấp, trụy tim mạch cần dùng thêm corticoides.
Điều trị viêm phổi do virút
Thể nhẹ: Không cần điều trị triệu chứng mà chủ yếu nghỉ ngơi, ăn đồ dễ tiêu, dùng kháng sinh khi có bội nhiễm (ho, khạc đờm).
Thể nặng: Có dấu hiệu suy hô hấp cần thở oxy, điều chỉnh thăng bằng kiềm toan, bổ sung nước và chất điện giải, theo dõi tại khoa hồi sức.
Về điều trị đặc hiệu, virút không hoạt động được khi ở ngoài tế bào nên bắt buộc phải xâm nhập vào trong tế bào. Các nhà khoa học đã nghiên cứu chất ức chế sự xâm nhập của virút bằng enzym làm vô hiệu hóa các chất cảm thụ của tế bào.
Có thể dùng kháng sinh trong trường hợp viêm phổi do virút có bội nhiễm vi khuẩn. Trong thời gian dịch phải cách ly bệnh nhân và tẩy uế nhưng khó thực hiện vì bệnh lây lan nhanh.
Tiêm chủng vắcxin phòng bệnh rất cần thiết nhất là trẻ em nhưng khó đạt yêu cầu vì môi trường có nhiều ổ chứa virút. Vì vậy, biện pháp phòng bệnh tốt nhất là cách ly, tẩy uế và tiêm chủng vắcxin.
Lời khuyên từ bác sĩ mà bạn cần nghe!
Để phòng viêm phổi, cần:
• Giữ ấm cổ và ngực, tránh bị lạnh đột ngột
• Điều trị tích cực các ổ nhiễm trùng vùng mũi họng như viêm xoang có mủ, viêm amiđan có mủ, viêm sùi vòm họng VA ở trẻ em
• Điều trị hiệu quả các đợt cấp tính của viêm phế quản mạn tính
• Tiêm phòng vắcxin chống cúm
• Cách ly, tẩy uế khi cần thiết
• Sau phẫu thuật vùng tai mũi họng, dùng kháng sinh để phòng viêm phổi
• Với trẻ em bị ho gà, sởi, thủy đậu... phải theo dõi biến chứng phế quản-phế viêm; dùng kháng sinh thích hợp khi có dấu hiệu nhiễm trùng như ho, khạc đờm
Nguồn: soha.vn