Chị Đinh Thị Liễu (52 tuổi, ở khối 1, thị trấn Yên Thành, Nghệ An) từng rơi vào tuyệt vọng khi được chẩn đoán mắc ung thư vú. Mọi người xung quanh đều nói rằng bệnh nhân ung thư như "lĩnh án tử", không biết "đi lúc nào". Nhưng rồi điều kỳ diệu đã đến - chị trở thành bệnh nhân ung thư vú đầu tiên tại Việt Nam khỏi bệnh nhờ phương pháp điều trị cấy tế bào gốc!
Dám thử nghiệm để có cơ hội sống
Sau những ngày tháng điều trị dài, giờ chị Liễu đã được về nhà với gia đình. Nhà chị liên tục có người thân, bạn bè ghé thăm chia vui.
Chỉ vào bàn tay mình, chị cười tươi: "Bây giờ da dẻ tôi đã hồng hào, người béo hơn, chứ trước khi chưa ghép tủy, da tôi nhăn nheo, gầy gò khó coi lắm. Hiện tuy vẫn chưa ăn được nhiều nhưng tôi cảm thấy trong người khỏe hơn, đặc biệt tinh thần luôn thoải mái, vui vẻ. Sau khi được cấy ghép tế bào gốc và được chẩn đoán đã khỏi bệnh, tôi đã lấy lại niềm hi vọng và lạc quan trong cuộc sống".
Câu chuyện bắt đầu từ đầu năm 2013, khi chị phát hiện có cục u nhỏ ở vú bên phải, sờ vào khá cứng, ấn mạnh thấy hơi đau. Gia đình nhiều lần khuyên đi khám nhưng phải đến tận tháng 9/2014, chị mới đến Bệnh viện Ung bướu Nghệ An và phát hiện bị ung thư vú, cần phẫu thuật gấp.
Nghe tin này, chị gần như khóc mỗi ngày. Chồng con lo lắng khuyên nên ra Hà Nội điều trị nhưng chị quyết ở lại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An vì thấy cơ sở vật chất cũng đầy đủ.
Càng ngày sức khỏe chị càng giảm sút trầm trọng, tóc rụng hết chỉ sau hai lần truyền hóa chất
Đầu tháng 11/2014, chị Liễu được PGS.TS.BS Nguyễn Trung Chính - Ủy viên thường vụ Hội Ung thư Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm khoa Ung bướu Bệnh viện 108, hiện là cố vấn cao cấp Bệnh viện Ung bướu Nghệ An - tư vấn về phương pháp điều trị bằng cách ghép tế bào gốc tạo máu tự thân có hiệu quả cao.
Tuy nhiên lúc đó ở Việt Nam chưa có bệnh nhân nào được điều trị bằng phương pháp này. Chị Liễu đã rất dũng cảm khi xung phong là người đầu tiên thử nghiệm phương pháp mới!
"Lúc đầu tôi cũng hơi e ngại. Là người áp dụng đầu tiên đồng nghĩa là người thử nghiệm, khả năng thành công không cao. Tuy nhiên tôi nghĩ khoa học càng ngày càng phát triển, trên thế giới đã có nhiều bệnh nhân được chữa khỏi, tôi tin tưởng vào các bác sĩ nên quyết định 'liều' một lần", chị chia sẻ.
Hành trình điều trị đầy gian nan
Giữa tháng 11/2014, chị bắt đầu được điều trị theo phương pháp mới.
Ngày 12/11/2014, chị được đưa vào phòng vô trùng tuyệt đối, truyền hóa chất liên tiếp trong 6 ngày, không tiếp xúc với ai. Thức ăn, nước uống đều do người nhà đun nấu cẩn thận đưa vào và được các bác sĩ kiểm nghiệm kỹ càng.
Một tuần sau, bác sĩ Chính trực tiếp chỉ đạo phẫu thuật, theo dõi và điều trị cho chị Liễu. Ca ghép tủy kéo dài 1 tiếng diễn biến tốt đẹp.
"Sau khi ghép xong, tôi thấy ngứa ở cổ và bụng đau dữ dội nên hoang mang sợ ca ghép thất bại, có thể mình sẽ chết. Nhưng khoảng vài tiếng sau được sự chăm sóc tận tình, sức khỏe tôi trở lại bình thường, không thấy đau, ngứa như trước.
Tôi được đưa vào phòng cách ly một tuần thì lại thấy ngứa ở nơi ghép tủy, tôi lo bị biến chứng, nhưng bác sĩ vui mừng cho biết tủy đã mọc, mọi chuyện đều tốt đẹp. Khoảng 3 ngày sau, tôi được ra phòng ngoài điều trị tiếp. Lúc ấy tôi mới thở phào nhẹ nhõm"
Ngày 11/12, Hội đồng bệnh viện đã kiểm tra lâm sàng, xét nghiệm - sức khỏe chị Liễu hoàn toàn bình thường! Ngay chiều hôm đó, bệnh viện đã tổ chức lễ ra viện cho chị.
Đại diện UBND tỉnh đã tặng hoa chúc mừng đội ngũ y bác sĩ Bệnh viện Ung bướu Nghệ An và bệnh nhân đầu tiên chữa khỏi ung thư vú bằng phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân tại Việt Nam
Được biết, bệnh nhân ung thư vú tiếp theo được chữa bằng phương pháp này tại cùng bệnh viện là một phụ nữ ở huyện Nghi Lộc (Nghệ An).
Gia đình - chỗ dựa vững chắc nhất
Chị Liễu tâm sự, vợ chồng chị có 3 người con, hai đứa đã lập gia đình. Thời gian chị mắc bệnh, cuộc sống gia đình hoàn toàn đảo lộn, việc buôn bán ngưng trệ.
Người thân phải thay nhau vào viện chăm sóc chị và thuê một phòng trọ gần bệnh viện để tiện nấu nướng. Toàn bộ thức ăn, nước uống trong quá trình chữa bệnh phải đảm bảo vệ sinh, tuyệt đối tránh nhiễm trùng ảnh hưởng đến việc điều trị.
Bước đột phá trong điều trị ung thư vú
Thạc sĩ, bác sĩ Phạm Vĩnh Hùng - Phó giám đốc Bệnh viện Ung bướu Nghệ An cho biết: "Ca ghép tế bào gốc tạo máu tự thân cho bệnh nhân Đinh Thị Liễu thành công là bước tiến quan trọng trong việc điều trị ung thư vú, mở ra hi vọng cho các bệnh nhân khác".
So với các phương pháp chữa trị ung thư khác, ưu điểm của phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân là có thể diệt sạch các tế bào ung thư, ít trường hợp bị tái phát hơn. Nếu có tái phát thì thời gian cũng dài hơn, khoảng từ 0 - 20 năm kể từ khi ghép
Bệnh viện đã điều trị ung thư thành công cho 5 bệnh nhân bằng phương pháp trên, chủ yếu điều trị ung thư hạch. Bệnh nhân Đinh Thị Liễu là ca ung thư vú đầu tiên được chữa khỏi bằng phương pháp này tại Việt Nam.
Cũng theo bác sĩ Hùng, ở Việt Nam có 4 địa phương đã áp dụng phương pháp trên vào điều trị là Hà Nội, TP.HCM, Huế và Vinh. Bệnh viện Ung bướu Nghệ An đi đầu trong việc điều trị thành công ung thư vú do đã nghiên cứu về phương pháp này từ nhiều năm qua.
Từ năm 2012, bệnh viện đã hoàn thiện các thiết bị và phòng điều trị đặc biệt để ghép tế bào gốc, đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Điểm cộng nữa là: Nếu như bệnh nhân ghép tế bào gốc ở nơi khác phải nằm viện khoảng 130 ngày với tổng chi phí từ 500-600 triệu đồng, thì thời gian điều trị ở Bệnh viện Ung bướu Nghệ An chỉ khoảng 50-60 ngày, chi phí khoảng 350 triệu (trong đó bảo hiểm chi trả 200 triệu)
Thông tin hữu ích về ung thư vú
Trong một hội thảo vào tháng 7/2014 tại Hà Nội về điều trị ung thư, PGS.TS Trần Văn Thuần - Phó Giám đốc Bệnh viện K, Viện trưởng Viện nghiên cứu phòng chống ung thư - cho biết nghiên cứu năm 2010 cho thấy có trên 70% bệnh nhân ung thư vú tại Bệnh viện K được chữa khỏi (trong vòng 5 năm bệnh không tái phát, không di căn).
Ung thư vú là bệnh phổ biến hàng đầu đối với phụ nữ Việt Nam. Hiệu quả của việc điều trị phụ thuộc lớn vào giai đoạn phát hiện và kích thước khối u cùng một số yếu tố khác - phát hiện càng sớm thì điều trị càng đơn giản và hiệu quả!
Việc lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc giai đoạn bệnh và tình trạng nội tiết cũng như các yếu tố khác.
Các phương pháp điều trị hiện đại:
Phẫu thuật: Có xu hướng gia tăng phẫu thuật bảo tồn để giữ tối đa hình dáng ngực cho bệnh nhân; áp dụng cho bệnh nhân có kích thước khối u nhỏ (dưới 3cm) và nằm xa trung tâm. Với các khối u to, sau khi hóa trị để thu nhỏ kích thước có thể áp dụng phẫu thuật bảo tồn.
Xạ trị: Hiện có xu thế xạ trị một phần thay vì xạ trị toàn bộ. Trong giai đoạn sớm có thể áp dụng tia xạ để giảm tác hại với tế bào lành.
Hóa trị: Hiện có nhiều loại hóa chất mới ra đời giảm tác động tiêu cực tới mô lành hoặc phối hợp các hoạt chất có cơ chế khác nhau để điều trị cùng lúc.
Điều trị nội tiết: Có thể sử dụng các kháng thể đơn dòng, đặc trị trong các trường hợp có yếu tố phát triển các mô dương tính, mang lại hiệu quả đột biến.
Nguồn: soha.vn