Hơi rùng nhưng đúng là sự thật luôn á! Bệnh này từng lan tràn khắp nơi, và giống hệt COVID-19, nó cũng có những biến chủng mới xuất hiện liên tục trong những năm sau đó.
Căn bệnh kỳ quái này đã ảnh hưởng đến hàng triệu người, nhưng mà đến giờ các nhà khoa học vẫn chưa hiểu nổi tại sao
Khoảng 100 năm trước, đúng lúc đại dịch cúm 1918 đang quét sạch từ 50 đến 100 triệu người trên toàn cầu, loài người lại phải đối đầu thêm một căn bệnh mới cực kỳ dị.
Căn bệnh mang tên Viêm não ngủ (EL) bắt đầu lan ra khắp châu Âu vào mùa đông năm 1916. Constantin von Economo, một bác sĩ tại Phòng khám Tâm thần - Thần kinh thuộc Đại học Vienna, là người đầu tiên mô tả căn bệnh này sau khi nhiều bệnh nhân xuất hiện với các triệu chứng thần kinh cực kỳ lạ lùng. Họ nhập viện với đủ thứ chẩn đoán từ viêm màng não, xơ cứng rải rác đến mê sảng. Nhưng không có triệu chứng nào khớp hoàn toàn với bất kỳ căn bệnh nào đã biết cả, và một triệu chứng mới – trạng thái lờ đờ hoặc buồn ngủ – đã định danh nó là một hiện tượng hoàn toàn mới. Bệnh được phân loại là cấp tính hoặc mãn tính, mặc dù hai giai đoạn này thường trộn lẫn với nhau.
Viêm não ngủ cấp tính thường khởi phát từ từ với các triệu chứng giống cúm mờ mờ ảo ảo, bao gồm mệt mỏi, sốt nhẹ, viêm họng, run rẩy, đau đầu, chóng mặt và nôn mửa. Các triệu chứng thần kinh theo sau và có thể xuất hiện siêu nhanh, như trường hợp một cô gái đột ngột bị liệt nửa người khi đang đi bộ từ một buổi hòa nhạc về nhà Chỉ trong vòng nửa giờ, cô ấy đã chìm vào giấc ngủ và qua đời 12 ngày sau đó.
Căn bệnh này còn được chia thành các loại khác nữa, trong đó một số loại gây tử vong cao hơn nhiều. Đặc biệt đáng sợ là dạng buồn ngủ - liệt cơ mắt, đặc trưng bởi tình trạng buồn ngủ cực độ. Hầu hết các bệnh nhân đều cảm thấy thèm ngủ kinh khủng và sẽ ngủ trong khoảng thời gian dài bất thường, nhưng họ rất dễ bị đánh thức và thường nhận thức được mọi thứ diễn ra xung quanh mình khi ở trong trạng thái giả ngủ này. Tỷ lệ tử vong đối với dạng này vượt quá 50%, tuy nhiên, số người sống sót gặp ít hoặc không có di chứng lâu dài lại cao hơn so với các dạng viêm não ngủ khác.
Căn bệnh EL, được cho là đã gây ra hơn nửa triệu ca tử vong, càng trở nên tồi tệ hơn khi bệnh tiến triển. Bác sĩ Oliver Sacks, người từng điều trị cho các bệnh nhân tại Bệnh viện Beth Abraham ở New York vào những năm 1960, đã viết trong cuốn sách Awakenings của mình rằng các bệnh nhân vẫn tỉnh táo và nhận thức được nhưng không hoàn toàn thức tỉnh. Họ ngồi bất động và không nói năng suốt cả ngày trên ghế, hoàn toàn thiếu năng lượng, động lực, sự chủ động hay cảm xúc. Họ ghi nhận những gì diễn ra xung quanh mà không có sự chú ý tích cực, như những bóng ma mong manh và thụ động như những thây ma
Bệnh dịch lan rộng và giống như COVID-19, các biến thể mới đã xuất hiện trong những năm tiếp theo. Tại Ý và Thụy Điển vào năm 1919-1920, một chủng mới xuất hiện với đặc trưng là các giai đoạn tăng động và mất ngủ, cùng những cơn đau thần kinh mà ngay cả morphine cũng không thể xoa dịu Bệnh nhân có thể bị co thắt nhanh ở cơ hoành, bụng, mặt hoặc tứ chi và thường biểu hiện không đối xứng. Chân tay của họ có thể bị cứng đờ và bất động trong thời gian dài.
Những người sống sót sau giai đoạn đầu cũng chưa thực sự an toàn đâu nha, vì các biến chứng thường khởi phát nhiều năm sau đó. Giai đoạn mãn tính thường biểu hiện bằng hội chứng Parkinson, kèm theo rối loạn giấc ngủ, bất thường về vận động nhãn cầu, lời nói, hô hấp và các rối loạn tâm thần. Trong những thập kỷ sau đại dịch, người ta ước tính có tới 50% các trường hợp mắc hội chứng Parkinson là hậu quả của viêm não này luôn.
Nguyên nhân của căn bệnh này phần lớn vẫn là ẩn số. Một giả thuyết phổ biến là bệnh do virus gây ra đại dịch cúm năm 1918. Hai căn bệnh đến và đi vào những thời điểm tương tự nhau nên việc mọi người nghĩ chúng có liên quan là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, các nghiên cứu tại các thành phố ở Mỹ từ năm 1918 đến 1923 không tìm thấy mối liên hệ trực tiếp nào cả. Một số nhà dịch tễ học vẫn nghi ngờ EL có thể là tổn thương thần kinh do cúm nhưng khởi phát muộn. Gần đây hơn, một nghiên cứu trên các mẫu mô não hiếm hoi còn sót lại kết luận rằng một loại enterovirus – cùng nhóm với virus bại liệt – có khả năng là thủ phạm.
Dù vậy, vẫn chưa có sự đồng thuận cuối cùng. Vào năm 1927, sau khi cướp đi sinh mạng khoảng 500,000 người, EL gần như ngừng lưu hành và biến mất hoàn toàn Việc căn bệnh biến mất là một điều tốt, nhưng nếu không biết nguyên nhân, chúng ta sẽ không thể biết liệu những căn bệnh tương tự có tái xuất hiện trong tương lai hay không. Các nhà khoa học cảnh báo rằng trừ khi tìm ra nguyên nhân thực sự, sự trở lại của nó trong bối cảnh một đại dịch cúm khác vẫn là điều khả thi về mặt lý thuyết đó nha!
Nguồn: kenh14.vn