Nghe mà nổi da gà luôn á, hai vị thiền sư này ngồi thiền hơn 200 năm mà cơ thể vẫn nguyên vẹn, không dùng bất kỳ chất bảo quản nào cả! Nội tạng, da thịt không thối rữa mà vón lại hoặc khô quắt, kiểu gì mà kỳ lạ vậy trời
Để đến chùa Đậu ở làng Gia Phúc (xã Nguyễn Trãi, Thường Tín, Hà Nội) phải đi con đường nhỏ gập ghềnh, lúc xuyên làng mạc, lúc băng cánh đồng, lúc uốn lượn trên triền đê.
Chùa Đậu nằm giữa cánh đồng, có sông Nhuệ chảy uốn lượn phía sau, xung quanh toàn hồ nước lớn bao quanh, trông như ngồi trên một hòn đảo vậy. Đứng từ xa nhìn lại, cảnh nước biếc gương soi thấu cửa thiền, vibe chill phết! ️
Ngôi chùa đẹp, rộng mênh mông nhưng vắng khách. Đại đức Thích Thanh Nhung nhai trầu bỏm bẻm, chạy tới chạy lui như đang bận rộn.
Hỏi về hai pho tượng táng chứa nhục thân hai vị thiền sư, ông mở tủ cũ kỹ, lục ra mấy tài liệu đưa cho đọc. Chắc ai tới cũng hỏi về hai vị này, nên ông soạn luôn tài liệu cho tiện, ngắn gọn mà đầy đủ info.
Vào phía nhà tổ, choáng ngợp luôn trước tấm bia đá siêu to khổng lồ và đẹp mê ly. Theo bia Dương Hòa thứ 5 (1639), ngôi chùa được xây từ thời Lý, khoảng thế kỷ 11-12.
Còn theo truyền thuyết thì chùa được dựng từ thời Sĩ Nhiếp (thế kỷ 3), cùng thời với chùa Dâu nữa.
Hồi đó, bầu trời phía Nam cung thành có luồng kinh khí kỳ lạ. Vua sai Quách Thông đi tìm hiểu. Đến đất Gia Phúc, thấy thế đất như hình đóa sen đang nở tỏa sáng, về báo lại cho Sĩ Nhiếp.
Sĩ Nhiếp cho rằng hoa sen là đất Phật, nên lập chùa đặt tên Thành Đạo Từ.
Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đặc biệt chiến tranh tàn phá, chùa đã tu sửa nhiều lần nên kiến trúc còn lại mang dấu ấn thời Lê – Nguyễn.
Chùa này có tới 5 tên gọi khác nhau: Thành Đạo Từ, Pháp Vũ Tự, chùa Vua, chùa Bà và chùa Đậu.
Các cụ già ở Gia Phúc giải thích: tên gốc do Sĩ Nhiếp đặt là Thành Đạo Từ, nhưng chùa thờ Đức Pháp Vũ nên gọi Pháp Vũ Tự.
Ngày xưa, vua tự tìm đất dựng chùa và chỉ dành cho vua chúa đến lễ, dân chỉ được lễ trong 3 ngày hội nên gọi chùa Vua. Bồ Tát hiện thân là nữ giới nên dân gọi chùa Bà.
Bậc chí sĩ đến cầu nghiệp lớn đều đậu đạt, người dân cầu gì trồng cây đều ra hoa đậu quả, nên gọi chùa Đậu. Cái tên giản dị này lại thông dụng nhất!
Cũng theo các cụ trong làng, trước khi bị thực dân Pháp đốt năm 1947, chùa còn lưu giữ nhiều đồ quý vua ban, cả ngôi chính điện siêu to siêu đẹp.
Đứng trên nền khu chính điện xưa với những chân cột đá lớn trơ trụi mà lòng đầy luyến tiếc...
Trong gian nhà tổ tĩnh mịch trang nghiêm, nhục thân hai vị thiền sư nổi tiếng Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường vẫn ngồi tư thế kiết già trong tủ kính, sau khi được các nhà khoa học tu bổ.
Theo cụ bà trông nom quét dọn chùa, những ngày rằm mùng một, dưới nền nhà thờ tổ, dân tứ phương kéo đến đông đúc, ngồi khoanh chân chắp tay niệm Phật. Họ mang đủ chuyện vui buồn đến "tâm sự" với ngài rồi cầu bình an.
Hiện chùa Đậu có tới 2 pho tượng thiền sư Vũ Khắc Minh và 2 pho thiền sư Vũ Khắc Trường. Tuy nhiên chỉ có 2 pho thật chứa toàn thân xá lợi đặt ở nhà tổ, 2 pho thạch cao để trong am thờ cạnh chùa. Vì am thờ dột nát ẩm thấp nên không thể để hai vị ngồi đó.
Truyền thuyết kể rằng xưa làng Gia Phúc có hai ông, chú với cháu, từ bé đến cuối đời chỉ ăn rau. Lớn lên chút thì vào chùa Đậu tu hành.
Vậy nên dân quanh vùng thường gọi thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường là "nhà sư Rau". Cả đời hai ông chỉ ăn một bữa cơm rau vào chính ngọ, rồi tụng kinh gõ mõ siêu độ cho nhân gian.
Biết mệnh số sắp hết, thiền sư Vũ Khắc Minh dặn đệ tử: "Sau đúng 100 ngày, nếu không nghe tiếng mõ tụng kinh nữa thì mở cửa am. Nếu thi thể ta hôi thối thì lấy đất lấp am, còn thi thể ta nguyên vẹn không mùi thì lấy sơn bả lên người ta trước khi xây bịt kín am".
Dặn xong, ông mang theo một chum nước uống, một chum nhỏ đựng dầu thắp sáng rồi vào am ngồi tụng kinh niệm Phật. Đệ tử bịt kín cửa am, chỉ để hở lỗ nhỏ thông khí.
Đúng 100 ngày sau, không nghe tiếng mõ nữa, đệ tử mở cửa thì thấy nhà sư tịch trong tư thế ngồi thiền. Các đệ tử làm như lời dặn.
Theo truyền thuyết, cháu của thiền sư Vũ Khắc Minh là Vũ Khắc Trường cũng vào am gõ mõ tụng kinh và hóa như vậy.
Câu chuyện về hai vị thiền sư viên tịch trong tư thế ngồi thiền, để lại xá lợi toàn thân chỉ tồn tại như truyền thuyết dân gian. Không ai tin đây là chuyện thật nên xá lợi của vị thiền sư kỳ lạ này bị chìm vào quên lãng...
Năm 1983, theo yêu cầu của Văn phòng 10 Hội đồng Bộ trưởng, Viện Khảo cổ học cử đoàn cán bộ, trong đó có PGS.TS Nguyễn Lân Cường về chùa Đậu kiểm tra sự xuống cấp của gác chuông.
Sau khi đi vòng quan sát các di sản, hiện vật quý, nhà khảo cổ Nguyễn Lân Cường đứng rất lâu trước một chiếc am thờ bên cạnh chùa.
Ông Cường xúc động nhớ lại: "Tôi đã đứng lặng người rất lâu trước chiếc am nhỏ bên phải chùa. Thiền sư Vũ Khắc Minh ngồi đó, phía sau mành, đôi mắt lim dim như đang suy tư về cõi Phật"
Bên phải chùa cũng có một am nữa. Bên trong tháp cũng có một vị thiền sư và theo trụ trì chùa, đó là nhục thân thiền sư Vũ Khắc Trường, mà theo truyền thuyết là cháu của thiền sư Vũ Khắc Minh.
Tuy nhiên theo ông Cường, không có cứ liệu nào khẳng định thiền sư Vũ Khắc Trường là cháu thiền sư Vũ Khắc Minh.
Như bị pho tượng kỳ lạ hút hồn, nhà khảo cổ Nguyễn Lân Cường tiến lại vén mành. Ông phát hiện vết nứt trên trán pho tượng. Qua vết nứt rất nhỏ chừng 0,2cm, ông nhìn rõ xương sọ.
Như vậy chắc chắn bên trong pho tượng này chứa hài cốt người, chỉ có điều đây là hình thức táng gì thì còn phải nghiên cứu kỹ.
Thế là nhục thân thiền sư Vũ Khắc Minh được đưa về phòng chụp X-quang Bệnh viện Bạch Mai. Qua các phim chụp, "nhà xương học" hàng đầu Việt Nam ngạc nhiên khi không phát hiện vết đục nào trên hộp sọ.
Qua các tài liệu khoa học nghiên cứu về ướp xác, đặc biệt các xác ướp nổi tiếng của Ai Cập, chuyên gia biết rằng để ướp xác, người ta thường đục thủng xương lá mía và nền sọ hoặc đỉnh sọ để lấy não. Sau đó độn vải hoặc chất bảo quản vào trong xương sọ.
Từ việc không có vết đục ở sọ, nhà khoa học Nguyễn Lân Cường khẳng định não của thiền sư Vũ Khắc Minh đã không bị lấy ra khỏi cơ thể!
Nhưng liệu có phải các đệ tử dựng pho tượng rỗng rồi xắp xếp xương cốt vào trong bụng tượng? Nhà khảo cổ Nguyễn Lân Cường khẳng định: "Qua những thước phim chiếu chụp, kể cả quá trình tu bổ pho tượng, chúng tôi không tìm được bất kỳ vật liệu nào như chất kết dính, dây, giá đỡ... để cố định và đỡ xương.
Các xương cũng đều nằm đúng vị trí giải phẫu học".
Sau nhiều ngày nghiên cứu, tìm hiểu, chiếu chụp, không tìm thấy chất kết dính, chuyên gia "đào mồ cuốc mả" Nguyễn Lân Cường khẳng định với cả thế giới rằng ông đã phát hiện ra một hình thức táng mới ở Việt Nam.
Ông đặt tên cho hình thức táng này là tượng táng hoặc thiền táng. Từ đấy giới khoa học gọi là tượng táng, riêng giới nhà Phật thích gọi thiền táng hơn.
Sau này khi nghiên cứu rộng ra toàn thế giới, PGS. Nguyễn Lân Cường mới biết táng thức này cũng có ở Trung Quốc, cụ thể là di hài Lục Tổ Huệ Năng (638 - 713).
Hiện nhục thân vẫn còn đến hôm nay và được để ở chùa Hoa Nam (huyện Thiều Quang, Quảng Đông).
Trong các tài liệu chính sử Việt Nam cũng ghi chép về việc Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, thiền sư Giác Hải để lại toàn thân xá lợi sau khi hóa. Tuy nhiên trải qua binh biến, giặc giã, hiện xá lợi của những tổ sư này không còn nữa.
Nguồn: soha.vn