Giờ thì ai cũng biết Buôn Đôn rồi, nổi tiếng khắp cả nước kể từ khi người Pháp "flex" lên bản đồ. Nhưng ít ai nhớ rằng, vùng đất này được "mở bản" bởi những thương nhân từ đất nước Triệu Voi (Lào) từ cuối thế kỷ 18 đó nha!
Và chắc không mấy ai biết, tên gọi Bản Đôn hay Buôn Đôn có nghĩa là Làng Đảo - chỉ những cồn đất nổi lên giữa dòng Sêrêpôk hồi mới "dựng nghiệp". Một trong những "chứng nhân sống" của Làng Đảo là cây bồ đề già nua đang nhuốm màu lá úa, ngậm ngùi theo năm tháng...
Vua voi xuất hiện!
Giờ thì mình đang đứng ở trung tâm Bản Đôn, lần đầu tiên trong đời. Và trái tim như lỡ một nhịp vì Bản Đôn không giống như mình tưởng tượng tẹo nào!
Bản Đôn cũng khác hẳn với bất kỳ buôn làng nào ở Tây Nguyên rộng lớn này bởi sự kết hợp lạ lùng giữa hiện đại, cổ kính và hoang sơ...
Chào đón mình ở Bản Đôn là một cô bé bán đồ lưu niệm có cái tên cute vô đối: Bụn Cụm Lào, với nụ cười hiền lành đến lạ kỳ.
Sao lại là Bụn Cụm Lào? Cô bạn giải thích: "Vì tổ tiên em người Lào nên tên họ phải có chữ Lào ở đuôi để nhận diện. Quanh đây ai cũng vậy á!"
Và rồi câu chuyện quay về những năm tháng cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 với ông Trương Bi - Nguyên Phó Giám đốc Sở VHTT&DL tỉnh Đắk Lắk kể lại.
Theo ông Trương Bi thì lịch sử của Buôn Đôn bắt đầu từ cái tên Y Thu Knul - một anh chàng từ đất nước Triệu Voi (Lào) sang. Hồi đó, cha của ông Y Thu Knul chèo thuyền theo dòng Mê Kông, rồi ngược dòng Sêrêpôk lên để buôn bán, trao đổi hàng hóa với các tộc người sống dọc sông.
Thấy vùng này chill phết, đất đai mênh mông, trù phú, người dân lại thân thiện mến khách, nên cha ông Y Thu quyết định "đóng quân" tại đây và... bị một cô gái M'nông bản địa "bắt" làm chồng theo truyền thống mẫu hệ luôn!
Lúc đó, không chỉ Buôn Đôn mà cả một vùng đất khổng lồ (gồm cả các huyện Ea Súp, Cư M'gar, Krông Buk...) đều thuộc quyền quản lý của một nữ "big boss" bản địa tên là Yă Wăm (bà Vằm). Bà Vằm thấy cha của Y Thu Knul khỏe mạnh, giỏi buôn bán, lại bị "bắt chồng" rồi thì chia cho ông vùng đất ven sông để lập làng.
Ban đầu ông chọn mấy cồn đất giữa sông để "mở bản", đặt tên là Bản Đon (tiếng Lào nghĩa là làng đảo), sau này mọi người gọi là Bản Đôn - Buôn Đôn. Cũng từ đó, người Lào có mặt ở Buôn Đôn.
Lúc đầu làng chỉ có gia đình ông Y Thu Knul, rồi 5-7 gia đình bà con bên Lào theo "kinh tế mới", rồi cứ thế tăng dần lên vài chục nhà. Đến giờ, cộng đồng người Lào ở Buôn Đôn có trên 70 hộ, gần 300 người chủ yếu ở buôn Trí, buôn Yang Lành, buôn Hwa... thuộc xã Krông Na (huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk).
Còn nhiều tranh cãi, nhưng nhiều tài liệu khẳng định, từ khi lập Làng Đảo, cha của Y Thu Knul bỏ nghề buôn bán trên sông để theo các anh M'nông đi săn voi. Dần dần ông trở thành thợ săn voi "xịn" nhất vùng. Sau này Y Thu Knul lớn lên nối nghiệp cha và trở thành huyền thoại săn voi của Tây Nguyên với danh hiệu Khun Ju Nốp (Vua voi).
Với thành tích bắt và thuần hóa khoảng 400 con voi (có tài liệu ghi là 500 con), đặc biệt là con voi trắng mang biếu vua Thái Lan, ông Y Thu Knul đã đi vào huyền thoại như biểu tượng sức mạnh, lòng dũng cảm của người Tây Nguyên. Xịn xò!
Khi vua voi Y Thu Knul mất, chính người Pháp và Vua Bảo Đại đã xây mộ cho ông để tỏ lòng thành kính.
Sau cha con ông Y Thu Knul, Buôn Đôn còn sinh ra những huyền thoại săn voi khác như: Nay Hoang, Y Suêk, Y Pui, Y Them, Ama Kông (con rể ông Y Thu Knul)...
Voi ở Buôn Đôn sau khi săn về được thuần dưỡng thành voi nhà rồi bán cho các buôn làng ở Tây Nguyên, thậm chí đưa sang các nước láng giềng như Lào, Thái Lan, Campuchia, Miến Điện... để đổi lấy chiêng ché, vải vóc, lương thực, đồ trang sức quý giá.
Cây bồ đề hơn 130 tuổi - Cây di sản "real"
Buôn Trí hiện là trung tâm du lịch của Bản Đôn với nhiều hoạt động dịch vụ, đặc biệt là cưỡi voi.
Nhưng ấn tượng nhất với mình ở buôn Trí là ngôi nhà gỗ trên 100 tuổi, kiến trúc theo nét văn hóa truyền thống của dân tộc Lào, kết hợp với văn hóa Êđê, M'nông.
Nhà có hai nóc cao nhọn như hai ngọn núi, bốn mái và hai nóc song song nhưng cửa chính lại mở ngay phía đầu hồi (giống nhà truyền thống Êđê). Cột nhà, khung nhà, tường nhà, sàn và mái lợp đều làm bằng gỗ K'cit.
Sàn nhà cách mặt đất ba mét, cầu thang rộng 1,2 mét (giống cầu thang người Kinh). Các cột nhà, hiên trước đều trang trí hoa văn Lào khá độc đáo.
Đây là nhà cũ của huyền thoại săn voi Ama Kông, giờ thành điểm tham quan du lịch có thu vé. Nhưng thật ra là một ngôi nhà hoang lạnh lẽo ngậm ngùi...
Bản Đôn phần lớn là người Lào, nên đương nhiên không thể thiếu "đầu làng có một ngôi chùa", được xây từ thời cha ông Y Thu Knul lập làng.
Nhưng đáng tiếc, ngôi chùa cổ năm nào giờ không còn nữa rồi. Dấu tích Phật giáo còn lại ở Bản Đôn hiện nay là thác Phật và cây Bồ Đề trên 130 năm tuổi (đường kính 271,9 cm, chiều cao 28,8 mét, bán kính tán lá trung bình 13,5 mét) nằm trong khuôn viên Nhà văn hóa cộng đồng buôn Jang Lành (xã Krông Na, huyện Buôn Đôn) vừa được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận là cây di sản Việt Nam.
Theo ông Trương Bi thì cây bồ đề này có nguồn gốc từ Ấn Độ, do một nhà sư từ Lào trong quá trình truyền đạo Phật vào Bản Đôn trồng vào khoảng năm 1900.
Trước đây, hằng năm, cộng đồng người Lào thường tổ chức lễ tế Phật vào mùa xuân và lễ Phật Đản vào rằm tháng tư âm lịch tại đền thờ Phật ở gốc cây bồ đề để cầu bình an, no đủ, hạnh phúc.
Nhưng nhiều năm gần đây, vì nhiều lý do nên hoạt động cúng Phật ngày càng thưa vắng.
Mọi hoạt động tín ngưỡng giờ chỉ còn tổ chức trong khuôn viên từng gia đình và "Phật luôn ở trong lòng" như lời của cô bé Bụn Cụm Lào khi có người nhắc đến ước mơ phục hưng ngôi chùa cổ của cộng đồng người Lào.
Cây bồ đề vì thế cũng hoang phế theo thời gian, lá vẫn xanh đấy nhưng đã úa màu quên lãng...
Cũng như cả Buôn Đôn bây giờ chỉ còn đúng 2 người Lào "gốc" của thế hệ đầu tiên đặt chân đến đây là Nay Kẹo Phá Lào, Nay Văn Lào.
Nhưng cả hai hiện đều trong cảnh gần đất xa trời. Mình tìm đến nhà ông Bum May Lào - người duy nhất của thế hệ thứ 2 còn sống nhưng năm nay cũng đã 85 tuổi nên con gái phải canh không cho khách hỏi nhiều vì "bố em rất yếu lại nhiều bệnh".
Ông Bum May Lào đến Buôn Đôn du lịch rồi bị "bắt vợ", ở luôn từ 1955 đến nay với 10 con và 30 cháu nội ngoại. Trong chừng đó năm, ông chỉ về thăm quê đúng một lần từ năm nào đó không nhớ.
Vậy nên tuổi già, mong ước duy nhất của ông là được lần nữa về cố hương nhưng lại không còn sức. Hmon - cô con gái ngồi canh bố nãy giờ năm nay đã 30 tuổi nhưng vẫn chưa một lần về quê cha vì... say xe!
Nhưng may mắn là Hmon vẫn không quên gốc gác của mình. Cô khoe biết múa hát mừng mùa, múa hát giao duyên, đối đáp nam nữ...
Đặc biệt Hmon luôn chăm chút và tự hào về những bộ trang phục truyền thống của dân tộc mình (áo ngắn tay, váy hoa sặc sỡ, màu tím, màu hồng pha màu vàng, với những đường nét hoa văn độc đáo hình thoi, hình tam giác, hình lưỡng hà...).
"Quê nhà xa xôi nhưng em lại thấy thật gần gũi và ấm áp dù chưa một lần về thăm.
Nguồn: soha.vn