Nhìn cái này giống hệt cái vặn nút chai bình thường mà mình vẫn dùng đúng không? Nhưng plot twist là nó đã tồn tại từ thời tiền sử rồi nha! Chính vì vậy mà nó còn có cái tên đáng sợ là "cái vặn nút chai của quỷ" đó. Câu chuyện đằng sau nó chắc chắn sẽ khiến bạn phải "ơ kìa" đấy!
Vào khoảng giữa thế kỷ 19, một anh chủ trang trại ở Nebraska, Mỹ, đang đi chơi thì tình cờ phát hiện một vật thể cứng như đá nhô lên từ mặt đất. Kích thước bằng một thân cây cỡ vừa, nhưng lại có hình xoắn ốc đều tăm tắp.
Lúc đó mọi người nhìn vào cứ tưởng là cái vặn nút chai từ lòng đất mọc lên luôn á!
Không lâu sau, phát hiện kỳ lạ này đã thu hút sự chú ý của nhà cổ sinh vật học Erwin H. Barbour, một tiến sĩ từ Đại học Nebraska. Anh này là fan cứng của các hóa thạch kỳ lạ, trước đó đã sưu tầm nhiều hóa thạch động vật có vú từ 23 đến 2,58 triệu năm trước.
Khi đến khảo sát vùng đất của chủ trang trại, anh tìm thấy một mẫu vật xoắn ốc dài tới 2,7 mét trên sông Niobrara! Nhìn kỹ thì bên trong là một đường ống chứa đầy cát, còn thành bên ngoài làm từ vật liệu sợi trắng. Cấu trúc đẹp xuất sắc và đối xứng hoàn hảo đến nỗi Barbour phải tự hỏi liệu chúng có phải hóa thạch không.
Những ngày sau đó, Barbour phát hiện thêm hàng chục cấu trúc xoắn ốc khổng lồ tương tự. Năm 1892, anh báo cáo và đặt tên nó là Daimonelix, hay còn gọi là "cái vặn nút chai của quỷ". Nhưng chỉ đặt tên thôi thì chưa đủ!
Barbour đẩy nhanh quá trình nghiên cứu, tìm kiếm đủ thứ tài liệu nhưng vẫn không ra kết quả gì cả.
Vậy là anh quyết định điều tra thực địa thêm một lần nữa và phát hiện ra những mẫu vật này chứa nhiều đá sa thạch hạt mịn, có thể có từ kỷ Miocen - khoảng 23 triệu năm trước! Lúc đó địa điểm này có thể đã có một hồ nước ngọt khổng lồ.
Năm thứ hai sau khi phát hiện, Barbour đưa ra giả thuyết chính thức: đây là tàn tích của bọt biển nước ngọt khổng lồ vì anh tìm thấy nhiều mô sợi thực vật trong cấu trúc xoắn ốc này.
Vì Barbour là người đầu tiên nghiên cứu nên lý thuyết của anh được mọi người tin ngay. Nhưng nhiều nhà khoa học vẫn cảm thấy sus vì trong quá trình phân tích, họ tìm thấy xương của một loài gặm nhấm tiền sử bên trong!
Nếu đây là hóa thạch bọt biển thì sao lại có xương động vật được? Vì vậy, nhà cổ sinh vật học Edward Drinker Cope đã bác bỏ lý thuyết của Barbour và chỉ ra rằng những mẫu vật này có khả năng là khuôn hang của một loài gặm nhấm nguyên thủy chưa được biết tới.
Cùng năm đó, nhà cổ sinh vật học người Áo Theodor Fuchs cũng đưa ra kết luận tương tự. Theo ông, những hóa thạch kỳ lạ này có thể là nhà dưới lòng đất của một loại động vật gặm nhấm nào đó trong kỷ Miocen, và có thể liên quan đến chi Geomys.
Tuy nhiên, Barbour vẫn bảo vệ quan điểm của mình và tin rằng hình dạng xoắn ốc đều đó quá hoàn hảo để được tạo ra bởi "những sinh vật có lý trí nguyên thủy". Drama bắt đầu nổ ra khi ông và Fuchs tranh cãi không ngừng để bảo vệ quan điểm của mình, nhưng vẫn chưa tìm ra câu trả lời rõ ràng.
Nhưng theo thời gian, hầu hết các nhà nghiên cứu đều có xu hướng cho rằng cấu trúc hóa thạch có khả năng là lỗ hang của loài gặm nhấm. Cuối cùng, các nhà khoa học tìm thấy những vết xước từ bên trong vòng xoắn và xác định rằng đó là dấu vết đào bới của loài gặm nhấm ở vùng đất ẩm.
Về việc những mẫu vật này được tạo ra bởi loài nào, các nhà khoa học phải mất vài năm nghiên cứu cật lực. Cuối cùng vào năm 1905, họ xác định đây là một loài gặm nhấm đã tuyệt chủng có họ hàng với loài hải ly hiện đại. Loài động vật này được đặt tên là Palaeocastor, có nghĩa là "hải ly cổ đại".
Vẻ ngoài của chúng là sự kết hợp giữa chuột đất Geomys và loài hải ly Bắc Mỹ hiện đại, chỉ sống ở khu vực ngày nay là Trung Tây Hoa Kỳ.
Loài hải ly cổ đại này có kích thước tương đương với một con hải ly Bắc Mỹ hiện đại. Chúng có đuôi ngắn, đôi tai nhỏ và đôi mắt giống chuột túi. Điểm đặc biệt là móng vuốt và răng cửa của chúng tương đối dài nên không sợ bị mòn khi đào hang.
Xác định được nó là loài hải ly tuyệt chủng vì răng cửa của nó khớp chính xác với các đường rãnh bên trong mẫu vật. Điều này được phát hiện bởi giáo sư Larry D. Martin của Đại học Kansas, người đã kiểm tra hơn 1.000 hang động cổ hóa thạch vào những năm 1970.
Loài hải ly cổ đại này đã dùng chiếc răng cửa dài để đào ra những cấu trúc vòng xoắn bằng cách tự vặn mình thẳng xuống đất. Còn dấu móng vuốt thì thường lưu lại ở hai bên và đáy hang.
Đồng thời, các nhà địa chất cũng lật lại lý thuyết của Barbour về trầm tích hồ và xác định rằng trầm tích hạt mịn được hình thành do tích tụ gió trong điều kiện khô hạn theo mùa. Điều này rất giống với khí hậu phổ biến ở phía tây Nebraska ngày nay.
Nhưng tại sao loài hải ly này lại đào hang dạng xoắn ốc thay vì đào thẳng xuống? Các nhà khoa học phát hiện ra việc xây dựng lối vào xoắn ốc cao và cuộn chặt như vậy có hai chức năng chính.
Một là giúp duy trì độ ẩm và kiểm soát nhiệt độ của hang động, hai là ngăn chặn sự xâm nhập của các loài săn mồi khác. Vì hầu hết những kẻ săn mồi không biết làm sao để vào một cái hang cong xoắn ốc kiểu này! Đồng thời, cấu trúc xoắn ốc cũng giúp hải ly đẩy đất đào lên dễ dàng hơn so với hang thẳng và dốc.
Giống như nhiều loài động vật sống trong hang ngày nay, tổ của hải ly cổ đại rất hoành tráng và được chia làm nhiều khoang. Có khoang riêng để nuôi con non, có khoang hướng lên cao để ngủ mà không sợ lũ lụt.
Nguồn: soha.vn