Ở "A Star Is Born" (Vì Sao Vụt Sáng), khán giả thời đại nào cũng tìm thấy chút gì đó của chính mình, đặc biệt là câu chuyện tình nghệ sĩ và những trái tim đầy vết thương của họ. Nghe mà thấy đau lòng quá đi!
Với Hollywood, câu chuyện tình yêu thăng hoa rồi kết thúc day dứt trong "A Star is Born" (Vì Sao Vụt Sáng) kinh điển chẳng kém gì Casablanca đâu nhé. Nhưng điểm khác biệt là Casablanca chưa bao giờ được làm lại, còn Star is Born thì đã được Hollywood remake tận 4 lần trong suốt gần một thế kỷ qua luôn. Lý do chắc là vì ở Star is Born, khán giả thời đại nào cũng thấy resonate với câu chuyện, đặc biệt là phần về đời sống nghệ sĩ và những trái tim tan nát của họ. "A Star is Born" của Bradley Cooper thành công và gây tiếng vang đến vậy, chính là nhờ chạm vào được những giá trị chung của thế giới giải trí ngày hôm nay.
Trong "A Star is Born" phiên bản mới nhất, ta có thể thấy được dấu ấn thời đại và góc nhìn vừa tinh tế vừa sắc sảo về thế giới giải trí hiện đại đầy khắc nghiệt ở Hollywood - nơi một ngôi sao vừa tỏa sáng thì đồng thời một ngôi sao khác đang dần lụi tàn. Điều này tuy đã được thể hiện ở các phần trước, nhưng chưa bao giờ rõ nét đến thế trong sự liên hệ với thế giới đầy bất an và nhiều vết thương của những người nghệ sĩ thời nay.
Với "A Star is Born" bản đầu tiên ra mắt năm 1937, với sự góp mặt của Janet Gaynor và Fredric March, phim tập trung vào giấc mơ chinh phục hào quang của một nữ diễn viên trẻ và sự lụi tàn của một ngôi sao nam nghiện ngập với những ngày tháng vinh quang đã qua rồi. Phim phản ánh khá sát giai đoạn chuyển giao từ thời phim câm sang phim có tiếng với sự trỗi dậy của nhiều ngôi sao nữ. Muốn hình dung giai đoạn này, bộ phim đen trắng từng đoạt Oscar "The Artist" (2011) là reference chuẩn nhất luôn.
Trong hai phần tiếp theo vào năm 1954 và 1976, "A Star is Born" chuyển hướng sang mô tả thế giới âm nhạc và khá đồng bộ với trend nhạc của hai giai đoạn đó. Phim năm 1954 với Judy Garland và James Mason là câu chuyện tỏa sáng của một nữ ca sĩ nhạc jazz; còn phiên bản 1976 với Barbra Streisand và Kris Kristoffesson, bối cảnh được đặt trong thế giới nhạc rock và pop những năm 70 của thế kỷ trước.
Phiên bản mới nhất của Bradley Cooper có vẻ gần nhất với bản 1976 dù được đánh giá vượt trội hơn về mọi mặt. Trong bộ phim đầu tay ở vai trò đạo diễn, Cooper đã làm phim theo phong cách tự nhiên với những tone màu rực rỡ và quay về với nhịp điệu âm nhạc đầu thập kỷ 70. Chemistry giữa Bradley Cooper - một diễn viên nhiều kinh nghiệm từng được đề cử Oscar với Lady Gaga - ngôi sao âm nhạc lần đầu có vai diễn chính trong điện ảnh thực sự amazing luôn á!
Trong một tiếng đầu phim, khi họ phát hiện ra nhau, tìm thấy nhau và cùng thăng hoa trong âm nhạc lẫn tình yêu, họ như mời gọi khán giả cùng đắm chìm trong chuyến hành trình đầy cảm xúc và đồng thời giúp ta chạm được vào thế giới nội tâm của họ.
Cái cách mà Jack (Bradley Cooper) che giấu sự ngạc nhiên khi nghe Ally (Lady Gaga) hát ca khúc "La Vie en Rose" bằng giọng thật trong quán bar của cộng đồng LGBTQ+; cách anh tiếp cận cô, chạm vào mặt cô và muốn nhìn thấy gương mặt thật không makeup, đưa cô đến không gian âm nhạc quen thuộc của mình, lang thang với nhau giữa đêm, khuyến khích cô viết nhạc và đỉnh điểm là cùng song ca với Ally ca khúc "Shallow" trên sân khấu - ta thấy được cả một chuỗi thăng hoa cảm xúc của hai tri kỷ, hai trái tim đồng điệu mới tìm thấy nhau. Mà nói thật đoạn này xem xong muốn khóc luôn ý!
Ở giai đoạn này, họ vừa phơi bày con người thật, vừa che giấu những vết thương quá khứ mà mỗi người phải đối mặt.
Ca khúc "Shallow" mà họ song ca trên sân khấu dường như phản chiếu hai thế giới nội tâm đầy bất ổn của cả hai.
"Hãy nói cho anh biết/ Em có cảm nhận được hạnh phúc trong thế giới hiện đại này không?
Hay em đang cần điều gì nữa/ Một điều gì đó mà em đang khao khát tìm kiếm?
Anh đang rơi tự do/Vào những lúc đẹp nhất, trái tim anh khao khát một sự thay đổi
Vào những lúc suy kiệt, anh thấy sợ hãi chính mình"
Lời của ca khúc, như chính lời tâm sự của Jack trước người phụ nữ anh yêu.
"Hãy nói cho em biết/ Anh có thấy mệt mỏi khi cố gắng lấp đầy khoảng trống ấy
Hay anh đang cần nhiều hơn thế/ Chẳng phải rất khó khăn khi anh vắt kiệt sức mình?"
Ở phía ngược lại, Ally cũng muốn thăm dò những bất ổn trong trái tim của Jack.
Rồi trong nửa sau phim, những lời tâm sự của Jack hay sự thăm dò của Ally đã trở thành hiện thực. Ally ngày càng sáng như sao, trong khi những bất ổn ngày càng nhấn chìm Jack, không cách nào cứu vãn được, ngay cả tình yêu và sự bao dung của Ally. Khi Jack ngã lăn và thậm chí đái dầm trên sân khấu trong lễ trao giải Grammy trực tiếp, điều đó không chỉ phá hủy danh tiếng mà còn phá luôn lòng tự trọng cuối cùng của một nghệ sĩ. Với một nghệ sĩ lớn, nếu không còn danh tiếng và lòng tự trọng, thì còn gì để níu giữ họ với cuộc đời này nữa?
"A Star is Born" là một bộ phim thành công không thể phủ nhận, ở cả khía cạnh thương mại với doanh thu phòng vé lẫn những dự báo về loạt đề cử Oscar ở mùa giải sắp tới – điều rất hiếm với một bộ phim remake; nhưng hơn cả thế, phim này còn sớm trở thành một hiện tượng văn hóa đại chúng và phần nào đưa ra chìa khóa giúp khán giả mở cửa bước vào thế giới đầy vết thương của những người nghệ sĩ trong thế giới hiện đại mà đôi khi chúng ta không thể hiểu nổi.
"A Star is Born" có tuổi đời gần 100 năm, và ở thời đại nào ta cũng có thể liên hệ với những câu chuyện đời thực lẫn đối chiếu với những bộ phim tiểu sử hay hư cấu về âm nhạc gần như có cùng một mẫu số chung nhưng chưa bao giờ hết bất ngờ.
Will Fetters, một trong ba biên kịch chính của "A Star is Born" 2018 thừa nhận rằng khi viết kịch bản, anh lấy cảm hứng từ câu chuyện của huyền thoại âm nhạc Kurt Cobain nhiều hơn là những tình tiết trong bản gốc. Tại sao một huyền thoại âm nhạc đang ở đỉnh cao sự nghiệp, có gia đình hạnh phúc như Kurt Cobain lại tự hủy hoại bản thân bằng rượu, ma túy và chọn cái chết để kết thúc cuộc đời mình? Ta cũng hoàn toàn đặt câu hỏi tương tự với trường hợp của Jackson Maine trong "A Star is Born". Liệu những bi kịch trong quá khứ, những bất ổn về tinh thần và thể xác có thể nhấn chìm và giết chết họ một cách đơn giản như thế? Sẽ không ai trả lời được câu hỏi này chính xác ngoài chính bản thân họ.
Và không chỉ Kurt Cobain, ta còn kể ra hàng loạt ngôi sao chết trẻ bằng hành vi tự sát hoặc đột tử. Những thành viên trong "câu lạc bộ 27", như Brian Jones, Jimi Hendrix, Janis Joplin, Jim Morrison trong thập kỷ 60, 70 hay Amy Winehouse sau này. Thậm chí là hai vụ tự sát chấn động gần đây của DJ Avicii hay đầu bếp, nhà nghiên cứu ẩm thực Anthony Bourdain. Điểm chung của họ là đều tài năng, thành đạt, nổi tiếng và giàu có – điều mà hàng triệu người khao khát nhưng chỉ vài người chạm tới. Vậy thì điều gì lại khiến họ luôn sống trong dằn vặt, đau khổ, thích tự hành hạ và hủy hoại bản thân rồi cuối cùng chọn cái chết hoặc cái chết chọn họ để hóa giải tất cả, để lại cho công chúng một câu hỏi không có lời đáp?
Nguồn: kenh14.vn